................VIETLUAN.ORG

....................Diễn đàn Đại Học Nhân Quyền Việt Nam

Trang chủ - Tác giả - Tham luận - Truyện ngắn - Tác phẩm - Thơ - Videos thời sự- Videos âm nhạc - Liên hệ - Quảng cáo

 
 
 
 



Chuyện nước Úc tháng 10 (có âm thanh)
Quỳnh Thanh & Thanh Xuân
November 4, 2010

Nghe
Tải xuống để lưu giữ

 

Quỳnh Thanh và Thanh Xuân xin mời quý thính giả nghe “Chuyện Nước Úc” tháng 10 năm 2010


Vị thánh đầu tiên của Úc trong Giáo hội Công Giáo

Chủ nhật 17.10.2010, nước Úc có người đầu tiên được giáo hội Công giáo tôn phong hiển thánh. Đó là thánh nữ Mary MacKillop. Đây là niềm vui không phải chỉ riêng cho tín hữu Công giáo mà còn là vinh dự cho nước Úc.

Chân dung của thánh nữ được chiếu lên nền trời tại Harbour Bridge, Sydney. Các đài truyền hình tại Úc đều có chương trình đặc biệt về cuộc đời của người làm vinh danh nước Úc này. Nhiều lễ tưng bừng được tổ chức tại Fitzroy, Victoria, Penola, Nam Úc, North Sydney, NSW, và các nơi in dấu chân của thánh nữ. Ngoài ra, chính phủ Úc cử phái đoàn chính thức do ngoại trưởng Kevin Rudd hướng dẫn cùng với hơn 10,000 người Úc hành hương Roma để dự lễ phong thánh

Thánh nữ Mary MacKillop là một người Úc gương mẫu. Như phần lớn người Úc đang sống trên đất nước, còn gọi là Xứ sở may mắn (Lucky country) này, thánh Mary MacKillop là con của một gia đinh di dân vào đầu thế kỷ 19. Thánh nữ sinh tại Fitzroy, Melbourne vào năm 1842. Đến nay Fitzroy vẫn là nơi nương thân của rất đông di dân, trong đó có người Việt Nam chúng ta. Là thế hệ 'một rưỡi' tại Úc, gia đình Mary MacKillop phải chật vật làm lại cuộc đòi tại đất mới. Từ tuổi nhỏ Mary MacKillop phải cùng cha ghé vai gánh vác việc nhà để nuôi các em trong gia đình.

Thấm cảnh nghèo và thấy nhiều người nghèo chung quanh mình, thiếu nữ Mary MacKillop nhận ra chỉ có giáo dục mới đem lại cuộc đời tươi sáng cho trẻ em di dân. Thiếu nữ Mary MacKillop đi Portland, Nam Úc học chữ, rồi làm cô giáo và trở thành nữ tu chuyên về giáo dục cho thiếu nữ nghèo tại Úc. Thế là dòng tu Josephites được thành lập tại Penola, Nam Úc. Ngày nay, đang có hơn 850 nữ tu Josephites hoạt động tại Úc, New Zealand cũng như tại Ái nhĩ lan, Peru, Đông Timor, Scotland và Brasil.

Bên cạnh tấm gương kể trên, thánh nữ Mary MacKillop được tôn vinh vì chuyển lời khấn cầu của nhân gian đến cùng Thiên Chúa. Thật vậy, giáo hội Công giáo tin rằng tất cả mọi người, dù hiện đang sống hay đã về cùng Chúa, đều khắn khít với nhau như tay chân trong một thân thể. Người đang sống nâng đỡ nhau trên đường đời. Người đã về cùng Chúa vẫn giúp ích cho đời bằng c ách chuyển lời cầu bầu đến cùng Chúa.

Một trong những điều kiện để được phong thánh trong Giáo Hội Công Giáo là phải thực hiện ít nhất  2 phép lạ cho người trần thế chạy đến xin cầu bầu. Thánh nữ Mary MacKillop đang thực hiện như vậy.

Phép lạ được Giáo Hội công nhận là: vào năm 1993 bà Kathleen Evans bị ung thư từ phổi, lan lên óc, bà xin thánh nữ cầu bầu cùng Chúa và được lành bệnh. Người được ơn vẫn còn sống tại Úc. Trước đó, vào năm 1961, một phụ nữ khác tại Úc bị ung thư máu được thánh nữ cầu bầu cùng Chúa nên lành bệnh.

Vào Chủ nhật 17.10, có mặt tại Roma để chứng kiến nữ tu Mary MacKillop được đức giáo hoàng phong hiển thánh còn có em Sophie Delezio. Năm Sophie lên ba, em bị xe hơi lạc tay lái xông vào nhà trẻ và bị phỏng 80% thân thể và bị cưa cụt cả hai chân. Khi bé Sophie lên năm, lại một lần nữa em bị xe đụng khi băng qua đường. Trong cả hai tai nạn, gia đình đều đưa Sophie vào bệnh viện chạy chữa. Đồng thời, cha mẹ, bà con thân thuộc và tín hữu trong giáo xứ thêm lời cầu khấn cùng thánh nữ Mary MacKillop chuyển cầu cùng Chúa. Năm nay Sophie lên chín và có mặt tại Roma với ngót 10,000 người Úc hành hương tôn vinh thánh nữ đầu tiên của nước Úc.

Là một thành phần tích cực và được Giáo Hội Công Giáo Úc ưu ái, Cộng đồng công giáo Việt Nam tại Sydney đã mừng kính trọng thể lễ phong thánh Mary Mc Killop vào tối Thứ Sáu 8/10, trước ngày chính thức tại Roma, dưới sự chủ tọa của Đức Giám Mục Michael MacKenna, Giám Mục Giáo Phận Bathurst đến làm phép tượng Thánh nữ Mary MacKillop, rước kiệu cung nghinh vào trong nhà thờ cùng với quý Cha hiệp dâng Thánh lễ.

Đặc biệt đúng ngày phong thánh tại Roma, Chủ Nhật 17/10, Cộng Đồng Công Giáo VN tại Sydney đã có kiệu, trùng với lễ Khánh Thành Lễ Đài và Chặng Đàng Thánh Giá tại Trung Tâm hành hương Bringelly. Khoảng trên 6000 người , trong số đó, có cả những quý vị đồng hương Tôn Giáo Bạn và từ các tiểu bang.

 

Quan lớn và thường dân đều như nhau trước luật pháp Úc có bổn phận tuân thủ luật pháp nhưng cũng có quyền làm cho ra lẽ.

Vào Quốc khánh Úc 26.1 đầu năm nay, ông Paul Keating nguyên Thủ Tướng Úc vào thập niên 80, lái chiếc xe Peugeot màu xanh lam của con gái ông từ nhà ở Potts Point đi thăm người mẹ ông đang ở tại phiá Đông thành phố Sydney. Hôm ấy là ngày lễ Quốc Khánh Úc nên nhiều ngả đường vào trung tâm thành phố Sydney bị đóng để tổ chức diễn hành. Bác tài Keating phải tìm đường lái lòng vòng. Đường xá lúc đó chật cứng những xe là xe. Ông phải len lỏi qua những hàng xe nối đuôi nhau dài như bất tận. Có lúc ông phải tạt qua 'bus lane' tức lằn đường dành riêng cho xe bus để vượt qua vài ba chiếc xe chậm rì rì trước mặt.

Bác tài Paul Keating vất vả len lỏi qua hàng xe chật cứng để mau đến nhà thăm mẹ. Ông lái tới ngả tư Pitt và Park St, tại trung tâm Sydney, ông thấy đèn còn vàng liền nhấn chân ga dọt qua. Paul Keating từng cầm trịch cai trị nước Úc nay cầm vô lăng điều khiển xe hơi thì cũng làm y chang thói quen của người Úc. Đó là đèn xanh thì từ từ dọt qua. Đèn đỏ thì thản nhiên ngừng để ngắm cảnh. Còn đèn vàng thì nhấn ga dọt qua trước khi đèn đổi sang màu đỏ.

Khi bác tài Keating vừa dọt qua thì lu lù đằng sau xe ông là xe cảnh sát rú còi và chớp đèn. Hai nhân viên cảnh sát ra lệnh bác tài  tức cựu thủ tướng Úc ngừng xe. Lúc đó vào khoảng 1 giờ trưa và cớm lịch sự chào ' Good afternoon, Sir'. Như tất cả bác tài bình thường khác, ông Paul Keating, khi bị cảnh sát chận lại, thì nghĩ ngay mình dính chấu vì trong một thoáng nào đó đã lở tay bẻ lái ké vào 'bus lane'. Ai ngờ cảnh sát cho biết bác tài đã vượt đèn đỏ và ghi giấy phạt. Nếu bị phạt vì xâm phạm đường dành riêng cho xe bus, có lẽ ông Paul Keating lặng lẽ nhận tấm giấy phạt và âm thầm nộp tiền phạt. Đàng này cảnh sát cho rằng ông vượt đèn đỏ và ghi giấy phạt $338 Úc kim, kèm theo ba điểm chặt đẹp khỏi bằng lái xe, nghĩa là một sự phạt vạ rất nặng. Bác tài Paul Keating một mực chối. Ông cãi lại là: lúc ông lái xe qua ngã tư thì đèn chỉ là màu vàng, chứ chưa đỏ. Và ông cương quyết làm cho ra lẽ.

Vào tháng Bảy vừa qua, bị cáo Paul Keating bị gọi đến toà án và tại đây một lần nữa ông cương quyết không nhận tội. Cuối cùng vào thứ Tư 28.9, chỉ còn vài ngày là đến tháng 10 của lá thư Úc châu tháng 10, một lần nữa toà Downing Centre Local Court tại Sydney lại xét xử bị cáo Paul Keating, 66 tuổi, từng giữ chức thủ tướng Úc. Ra trước toà án, bị cáo cựu thủ tướng Úc đối chất với hai nhân viên cảnh sát.

Hai nhân viên cảnh sát Chad Ansted và Andrew Brooks từng hành sự vào ngày Quốc khánh 26/1/2010 tại khu vực buôn bán của thành phố Sydney vẫn xác nhận mình đã thấy chiếc xe Peugeot xanh lam vượt đèn đỏ. Ngược lại, bị cáo vẫn nhất quyết rằng lúc đó đèn đường là vàng chứ không phải đỏ.

Bà quan toà Carolyn Barkell ngồi ghế chánh thẩm nghe cả hai phiá cảnh sát và bị cáo tả lại sự thể. Sau khi cân nhắc, bà xét rằng không có bằng chứng chắc chắc cho thấy đèn đường lúc đó là màu vàng hay màu đỏ. Theo luật Úc, ai ai cũng được coi là vô tội trước khi có bằng chứng rõ ràng. Vin vào nguyên tắc này, vì không rõ 'trăm phần trăm' lúc đó đèn màu vàng hay màu đỏ, bà thẩm phán đã xét bị cáo Paul Keating vô tội.

Nhận được phán quyết của toà án, ông Paul Keating cho rằng mình làm cho ra lẽ vụ kiện này là để giúp cho người dân bình thường tại Úc, khi bị vướng mắc vào cửa công thì phải biết bổn phận và quyền lợi của mình.

Bổn phận là phải thành thật: có nói có; không nói không. Chứ không phải như một ông quan toà tại toà thượng thẩm NSW. Nhớ lại vào tháng Tám, 2006 quan toà Marcus Einfeld lãnh giấy phạt $77 vì tội chạy xe quá tốc độ. Quan toà đã không thành thật mà khai gian hôm đó bà giáo sư Teresa Brennan, người Mỹ, mượn xe của mình và lái đi. Toà đã làm ra lẽ bằng cách sang tận Mỹ để điều tra và được biết bà giáo sư này đã qua đời từ năm 2003 lận kià. Vì khai gian, đầu năm nay quan toà Einfeld bị tù ba năm và bị đuổi ra khỏi trạng sư đoàn. Do đọ bổn phận của người hầu toà là nói sự thật và chỉ có sự thật mà thôi.

Còn quyền lợi của người dân bình thường khi lãnh giấy báo đã phạm luật mà biết chắc chính mình không phạm luật thì có quyền làm cho ra lẽ. Sau phiên toà, ông Paul Keating nói: người dân bình thường phải biết guồng máy cai trị ở đây không nhắm tới bắt bẻ hay kiếm chuyện ai cả, đồng thời người dân được quyền bảo vệ điều mình tin chắc chắc là đúng, nghĩa là có quyền tự bảo vê mình.

Nếu tin chắc là đúng thì cứ theo luật mà làm cho ra lẽ. Đúng là ngồi trên xe mà không 'xích beo' tức không cài dây nịt an toàn, như cựu thủ tướng Bob Hawke thì móc túi nộp phạt. Đúng là lái xe mà không vượt đèn đỏ thì làm cho ra lẽ như cựu thủ tướng Paul Keating.

 

Sách mới do người trẻ viết mang tựa đề  CÂU CHUYỆN TỪ MỘT THÀNH PHỐ VÙNG CAO NGUYÊN

Để kỷ niệm 35 năm định cư trên nước Úc, Cộng Đồng Người Việt Tự Do Victoria đã đưa ra rất nhiều chương trình đặc sắc để cám ơn lòng hảo tâm của người Úc và chính quyền Úc đối với những Thuyền Nhân Việt Nam.

Mở đầu cho Tuần Lễ Tỵ Nạn, Thủ Hiến John Brumby của Tiểu Bang Victoria đã mở cuộc tiếp tân long trọng để tiếp đón Cộng Đồng VN tại phòng khánh tiết của “Trung Tâm Văn Hóa Melbourne  - Art Centre”. Tại đây, ông đã được  ca đoàn tý hon của Trường Tiểu Học St. Alban hát tặng hai bài hát Quốc ca Úc và Việt Nam Tự Do. Sau đó, tới phiên Toàn Quyền Victoria, Giáo Sư David De Dretser, A. C. đã tiếp tân khoản đãi phái đoàn Cộng Đồng Người Việt ngay tại Victorian Government House.

Điều đặc biệt của hai cuộc tiếp tân này là, lần đầu tiên, cả hai ông đều dự buổi chào cờ ÚC VIỆT và đứng đọc diễn văn ngay bên cạnh hai lá cờ ÚC VÀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT ÚC CHÂU.

Vào ngày Thứ Sáu 12 tháng 11 2010 sắp tới, Cộng Đồng Người Việt Victoria sẽ tổ chức buổi triển lãm “35 Năm Định Cư Tại Victoria, tại “Phòng Khánh Tiết Elizabeth Hall”

Điểm đặc biệt trong cuộc triển lãm này là buổi lễ ra mắt cuốn sách

“TALES FROM A MOUNTAIN CITY – CÂU CHUYỆN TỪ MỘT THÀNH PHỐ VÙNG CAO NGUYÊN”

của Cô Quỳnh Đào, dưới sự chủ tọa của vị Cựu Thủ Tướng được Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu ngưỡng mộ nhất: Ông Malcolm Fraser.

Từ trước tới nay, đã có rất nhiều tác giả cho ra mắt những tác phẩm của họ. Đa số các tác giả là quân nhân trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, tức là “Thế Hệ Thứ Nhất” của Cộng Đồng Tỵ Nạn VN.

Nhưng “Tales From A Mountain City”(tức Những câu chuyện từ một thành phố vùng Cao Nguyên) không thuộc loại kể trên

Điểm đặc biệt đầu tiên, tác giả của cuốn sách không thuộc “Thế Hệ Thứ Nhất”, mà thuộc  về “Thế Hệ Thứ Một Rưỡi”, tức là những người vượt biên tới Úc vào tuổi đôi mươi.

Cuốn sách kể lại cuộc đời của mình với những biến cố xẩy ra từ năm 1975 tới 1978.

Điểm đặc biệt là: tác giả là một cô gái: Quỳnh Đào, tức Đào Thị Quỳnh.

Khởi đầu, cô  Quỳnh viết bằng tiếng Việt, nhưng sau khi suy đi nghĩ lại nhiều lần, cô  đã đổi qua viết bằng Tiếng Anh.

Mục đích của cuốn sách là: kể lại câu chuyện của mình để cho các thế hệ sau đọc và hiểu thế nào là Cộng Sản? Cộng Sản đã làm gì trong những ngày đầu tiến chiếm Miền Nam Việt Nam?

Những người Trẻ của các Thế Hệ Thứ Một Rưỡi, Thứ Hai, Thứ Ba, Thứ Tư . . . và sau nữa của Người Việt Nam Tỵ Nan sẽ đọc và hiểu rõ lý do tại sao ông, cha, anh của họ phải bỏ nước ra đi.

Ngoài ra, cô Quỳnh cũng mong muốn những bậc cha anh của Thế Hệ Thứ Nhất đọc cuốn sách của mình, để biết, những đứa con, đứa em của mình đã có cái nhìn, có những nhận xét như thế nào về Việt Cộng? Cái nhìn này, chắc chắn sẽ khác một chút, hoặc là khác hẳn với quan niệm của những nguời Lính Việt Nam Cộng Hòa về kẻ thù Cộng S ản, nhưng luôn luôn đồng ý với nhau về quan điểm rằng:

Cộng Sản tượng trưng cho sự dã man, tàn nhẫn, trả thù, lừa đảo. Trong tuyên truyền, chúng luôn luôn nói “Tự Do” là quý nhất, dân giầu nước mạnh là tốt nhất. Nhưng trong thực tế, chúng không cho bất cứ một ai được hưởng Tự Do, và không một ai có thể có chút tài sản riêng nào cả.  

Cô Đào Thị  Quỳnh sinh ra ở Đà Lạt, một thành phố ở vùng Cao Nguyên. Cả  dòng họ đều làm công chức cho chính phủ. Từ khi di cư vào Nam năm 1954, cha mẹ của cô Quỳnh gặp nhau và lập gia đình ở Đà Lạt, và Quỳnh được sinh ra và lớn lên ở đó. Thủa nhò, Quỳnh được học Tiểu Học và Trung Học tại trường Lycée Yersin.

Cuộc sống của một gia đình công chức ở Đà Lạt thật là yên ổn, vui vẻ và có phần trầm lặng. Chiến tranh ảnh hưởng rất ít tới thành phố của vùng Cao Nguyên này, chỉ có khác một chút khi những chàng trai của Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt cứ hai năm đến rồi đi.

Tháng 3 năm 1975 - lúc đó, Quỳnh đang học lớp 10 – tình hình Đà Lạt có vẻ sôi động, vì tin thất thủ Ban Mê Thuột. Cho tới một ngày định mệnh, Quỳnh và các bạn học đang ngồi trong lớp thì Cô Giáo được mời lên phòng Hiệu Trưởng họp khẩn. Một lúc sau, cô vội vã trở về báo tin cho cả lớp:

“Việt Cộng đang trên đường tiến chiếm Đà Lạt. Nhà trường quyết định đóng của ngay tức khắc. Các em hãy trở về nhà ngay đi.”

Cả lớp trở nên nhốn nháo, tiếng khóc vang lên khắp nơi, cô giáo lo thu xếp bài vờ rời lớp, học trò cũng vội vã xách cặp chạy ra ngoài. Các bậc cha mẹ cũng đã hay tin, vội vã đến đón con về.

Quỳnh run rẩy chạy đi tìm đứa em gái, hai chị em sợ co rúm người lại trước cửa lớp, muốn chạy về cũng không dám, sợ đi đường bị Việt Công bắt. Đến khi cả trường đã về hết, chỉ còn hai chị em bơ vơ trước cổng trường, còn cái sợ nào hơn nữa?

Cuối cùng, hai chị em đã được người anh lớn đón về bằng xe Honda.

Từ đó, cuộc đời của toàn thể người dân ở vùng Cao Nguyên đã bị xáo trộn, và rồi cuộc sống của tất cả người dân của Miền Nam Việt Nam cũng đã bị xáo trộn.

Trước năm 1975, tất cả mọi người đều là Người Quốc Gia, không có ai là Cộng Sản cả. Tất cả đối với nhau thật là thân mật, tốt đẹp. Nhưng sau 30 tháng Tư 1975, Quỳnh mới chợt nhận ra là: những người quen với mình, với gia đình mình đã một sớm một chiều trở thành những Người Cộng Sản, với những thái độ thù hằn, tráo trở.

Bọn Việt Cộng, một mặt đưa ra chiêu bài hù dọa, đánh động tâm lý những người dân Việt, những người Lính Việt Nam Cộng Hòa bằng cách tổ chức những cuộc học tập cho các binh sĩ trước, cho họ về đúng thời hạn, sau đó mới kêu gọi những Sĩ Quan của chúng ta đi học tập, với lời dụ dỗ: “Mang theo đồ ăn cho ba ngày” làm ai cũng tưởng là chỉ đi học tập có ba ngày, nên đã đồng ý tham gia. Cuối cùng, ba ngày đã trở thành ba năm, muời ba năm . . . và suốt cả cuộc đời.

Mặt khác, bọn chúng gom đám trẻ Tiểu Học, Trung Học lại, vừa dọa nạt vừa khuyến khích bọn trẻ làm con bài đi rình mò những người trong gia đình, hàng xóm để tố cáo những hoạt động của họ. Quan trọng hơn nữa, đưa những người trẻ này vào những công tác nguy hiểm mà với đầu óc non trẻ, những học sinh này đâu có thế nào biết hoặc lường trước được.

Từ những công việc tàn nhẫn, độc ác, như:

Đổi Tiền - Đánh Tư Sản Mại Bản – Đi Thủy Lợi - Đi Kinh Tế Mới – Thâu Thập Phế Liệu Chiến Tranh - Gia Nhập Thanh Niên Xung Phong . . .

Bọn Việt Cộng đều dùng đám học sinh non trẻ vào những công tác nguy hiểm này.

May mắn thay, Quỳnh sống sót sau những công tác nguy hiểm này và được cho về  Sàigòn tiếp tục học hành. Nhưng học hành trong xã hội Việt Công chỉ là học về Cộng Sản, về những chính sách tàn nhẫn, trói buộc con người của bọn chúng. Đã cùng hoạt động với bọn Việt Cộng, Quỳnh đã biết được thủ đoạn của bọn chúng, và cảm thấy sợ hãi, không an tâm nếu tiếp tục sống trong cái xã hội như vậy.

Cuối cùng, cha mẹ của Quỳnh, nhờ sự giúp đỡ của họ hàng, bà con, đã liên lạc được với một nhóm người vượt biên. Cuối năm 1978, anh em Quỳnh đã được đưa xuống Rạch Giá, nhập vào đoàn ghe đánh cá, do một Đại Úy . . . Không Quân làm Tài công. Sau cuộc hải trình đầy lo sợ và chết chóc, chiếc ghe do ông Không Quân cầm lái đã đến bến bờ Tự Do an toàn.

Chính Phủ Tự Do của Thủ Tướng Fraser đã tiếp đón những người Tỵ Nạn Việt Nam di dân vào Nước Úc, để hai mươi mốt năm sau, Quỳnh đã hân hạnh mời người ân nhân của mình, Cựu Thủ Tướng Fraser viết lời tựa và giới thiệu cuốn sách đầu tay của mình, nói về Cuộc Đời Tỵ Nạn của Người Việt Nam. Một hân hạnh nữa của Quỳnh khi được Luật Sư Lưu Tường Quang (AO), cựu Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Tự Do, cựu Tổng Giám Đốc Đài Phát Thanh SBS giới thiệu cuốn sách bằng Tiếng Việt. Hai vị này sẽ giới thiệu cuốn sách của Quỳnh trong buổi lễ “Kỷ Niệm 35 Năm Định Cư Của Người Việt Tỵ Nạn Tại Úc Châu.

 Chúng ta, những người Tỵ Nạn thuộc Thế Hệ Thứ Nhất, hãy mua và đọc “Tales From A Mountain City” để đọc và hiểu về tâm tư của thế hệ sau của mình. Hãy đưa cho con, cháu chúng ta cùng đọc, để chúng hiều thêm về những suy nghĩ của thế hệ của những người không phải là Lính, về Cộng Sản và xã hội Cộng Sản. Hảy liên lạc với Quỳnh qua email: vdd007@hotmail.com, hoặc gọi điện thoại số 0414 443 961 begin_of_the_skype_highlighting              0414 443 961      end_of_the_skype_highlighting để nói truyện trực tiếp với cô. 

Mong rằng, sau cô Quỳnh Đào, sẽ còn có nhiều Quỳnh Đào khác, viết ra những cuốn sách nói lên tâm tư của mình, đời sống của mình, làm cho nền văn hóa của Người Việt Tỵ Nạn ngày càng thêm phong phú. Đây cũng là cách thức hay nhất để giữ gìn và bảo tồn Cộng Đồng Người Việt Tự Do, hậu thân của Miền Nam Việt Nam, của Việt Nam Cộng Hòa ngày xưa, đó của một nước VN trong Tự Do Nhân Quyền.

 

QT và TX xin kính chào quý thính giả tâmthứcviệt.com và xin hẹn gặp lại trong Chuyện nước Úc tháng 11.2010