|
Tác phẩm: Thăng Long Xưa, Hà Nội Nay.

CHƯƠNG VIII: Về việc tín ngưỡng
Việc tín ngưỡng sùng bái vong linh của tổ tiên hay dã sử, huyền sử là ý thức phổ biến của nhân loại. Về cổ sử của Trung Hoa hầu hết mọi người đều cho rằng đã bắt đầu từ Tam Hoàng hoặc Ngũ Ðế. Về sau là ba triều đại: Hạ, Thương, Châu mà các sử gia, đều xem "Tam Hoàng", "Ngũ Ðế" đều là những truyền thuyết không có cách nào để chứng minh. Còn sự tồn tại của vương triều nhà Hạ, tuy nhiên nhiều học giả tin là có thật. Và cũng có không ít người cho rằng truyền thuyết con trai của Vũ là Khải lên nối ngôi cha, bắt đầu thay đổi tập quán đề cử lãnh tụ đánh dấu quốc gia đã bắt đầu. Nhưng tất cả những điều đó chưa có tài liệu, văn bản nào xác thực để chứng minh cả.
Với người Trung Hoa việc tín ngưỡng quỷ thần, và thờ thần có ý nghĩa văn hóa rất quan trọng đối với người Tầu. Trong số đó quan trọng nhất là "Ðế". Vị thần thuộc tiên tổ của quân vương. Trong một văn bản khác của đời Thương – Chương Bàn Canh trong sách Thượng Thư, đã nói đến điểm này rất rõ: Chương Bàn Canh là lời ghi chép bài nói chuyện của vua Bàn Canh với các triều thần khi quyết định dời đô. Trong đó có thể thấy được: Tiên vương các triều đại cũng như tiên tổ của quần thần tuy đã xa rời nhân thế, nhưng họ vẫn có mối liên hệ Vua tôi trên thiên giới. Nếu quần thần ở nhân gian làm trái ý của nhà Vua, thì tiên tổ của họ sẽ cầu tiên vương giáng họa xuống cho người đó để trừng trị. Trái lại, nếu họ ngoan ngoãn nghe theo lệnh của tiên vương: Sẽ được tiên vương bảo hộ (giống hệt bọn lãnh đạo Ðảng Cộng Sản VN và Bắc triều bây giờ). Còn văn hóa nhà Chu, vị chúa tể tối cao có khi được gọi là "Ðế", hoặc "Thượng Ðế". Và thường thường được gọi là Thiên, "Trời", con trời. Còn theo cổ sử Trung Hoa thì Hoàng Ðế Cơ, hiệu là Hiên Viên, được coi là Thủy Tổ của Hoa Tộc.
Khoảng thế kỷ XXII trước CN, hậu duệ của Hoàng Ðế là Nghiêu trở thành thủ lĩnh của liên minh bộ lạc ở vùng Hoàng Hà. Khi Nghiêu già, Nghiêu truyền cho Thuấn thay thế Nghiêu và Thuấn được các sử gia phong kiến Trung Hoa ca ngợi là những ông vua hiền đức nhất trong lịch sử nước Tầu (…) Thời đó, vùng Hoàng Hà thường xẩy ra nạn lụt. Hạ Vũ là quan có công lao trong việc khắc phục nạn lụt của sông Hoàng Hà. Do vậy, khi Thuấn già, Thuấn đã tiến cử Vũ làm thủ lĩnh của liên minh bộ lạc. Khoảng đầu thế kỷ XVI trước CN, sau khi Vũ chết, con Vũ là Khải lên ngôi vua, lập nên Triều nhà Hạ. Triều đại đầu tiên trong lịch sử nước Tầu.
Triều Hạ tồn tại khoảng 400 năm gồm 16 đời vua. Vua cuối cùng của triều Hạ là Kiệt lên ngôi. Kiệt là bạo chúa nổi tiếng đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa. Khoảng thế kỷ XIV trước CN. Cháu 10 đời của Thang là Bàn Canh dời đô đến Ấn.
Triều Thương tồn tại khoảng 600 năm, gồm 30 đời vua, vua cuối cùng của Triều Thương là Trụ cũng là một bạo chúa nổi tiếng.
Vấn đề văn hóa trong hoàn cảnh Việt Nam bị Trung Hoa cai trị hơn một ngàn năm.
Về vấn đề văn hóa
Người Tầu vẫn lẩn quẩn trong cái vòng cấm thành mấy ngàn năm trước. Không chịu mở đường đi ra ngoài, cả giới lãnh đạo Bắc Kinh ngày nay, họ gần gũi lịch sử cổ của Trung Hoa, nhưng lại xa lạ với các nước láng giềng, nhất là Việt Nam, họ rất ít tiếp xúc với văn hóa Việt Nam và không chịu rút ra bài học Việt Nam để soi lại mình, còn giới trí thức Trung Hoa phản ảnh về văn hóa Việt Nam trong giai đoạn bị Trung Hoa đô hộ thì sao?
Nhiều nhà Sử học Trung Hoa đã coi giai đoạn này trong lịch sử Việt Nam như một bộ phận của lịch sử Trung Hoa. Việt Nam được hưởng ơn khai hóa của các triều đại Trung Hoa. Người Tầu có thói quen cố hữu là họ xem thường dân tộc khác, cũng như tổ tiên của họ, tự xem mình là cao, mà đè nén người khác xuống thấp, tin những gì thuộc về hư ngụy, mà không mở to mắt rằng: sắc xanh, sắc vàng, sắc đỏ, sắc tím… hoa hồng, hoa huệ, hoa lan… thể vuông, thể tròn, mặt trời, mặt trăng, đến các vì sao đều quý để làm đẹp cho cảnh vật và vũ trụ, rằng không phải chỉ có văn hóa Trung Hoa là nhất.
Từ đầu thập niên 90 Trung Quốc xuất khẩu văn hóa đại quy mô trên thế giới, xây dựng 260 học viện Khổng Tử ở 75 Quốc Gia, riêng Hoa Kỳ có 40 viện Khổng Học. Dưới hình thức "Thành phố huynh đệ" trao đổi sinh viên tặng không học bổng Hoa Ngữ, sách, nhạc, phim ảnh, triển lãm lịch sử, biểu diễn võ thuật v.v...
Ở Á Châu, Thái Lan, Miến Ðiện, Việt Nam... Nước nào cũng xây dựng Học Viện Khổng Tử - quả bom siêu vi trùng văn hóa đe dọa khắp nơi từ Nam Mỹ đến Trung Mỹ, Châu Phi, chương trình khuếch trương thắp sáng văn hóa Trung Quốc trên hoàn vũ.
Trong khi nước Tầu chưa đủ trưởng thành để hòa nhập vào thế giới tự do văn minh, người Tầu đi đến đâu cũng gây lo ngại cho dân bản xứ. Những người nghiên cứu lịch sử có thể thấy: Trung Quốc luôn luôn là hiểm họa cho các dân tộc khác, cho các nền văn hóa khác. Bất kể cái gì của Trung Quốc, dù là món ăn tinh thần tặng không, nguy hiểm cũng khó lường.
Họ xuất khẩu hàng hóa, hay nhập khẩu... đều hàm chứa những quỷ kế thâm độc, nham hiểm. Dùng hàng Trung Quốc từ thực phẩm đến quần áo đồ chơi trẻ em đều có chất độc bên trong... còn Trung Quốc nhập khẩu hàng hóa với dụng ý ăn cắp kỹ thuật, có thể nói vắn tắt: Trung Quốc là xứ sở của những mưu mô xảo quyệt, lừa đảo, lật lọng của các thứ đạo bành trướng, đồng hóa, diệt chủng mà họ lại muốn quảng diễn văn minh Trung Hoa. Không biết ông Khổng Tử có thấy xấu hổ về con cháu của mình không?
Có một điều lạ, khá thú vị là người Tầu bỏ ra hàng tỷ Dollars xây dựng các học viện Khổng Tử ở Mỹ để truyền bá văn minh văn hóa Trung Hoa mà hầu hết các con ông trời đến Hoa Kỳ vẫn ao ước được nhập quốc tịch Mỹ, tuyên thệ vứt bỏ tổ quốc Trung Hoa vĩ đại! Ngài Khổng Tử, Lão Tử nếu sinh vào thời đại cộng sản cũng xin nhập quốc tịch Mỹ.
Viết đến đây, tôi muốn rẽ ngang để bàn về một vài nét đặc sắc của văn hóa Hoa Kỳ. Chúng ta thấy ngay bề mặt xã hội Mỹ, các nhóm sắc tộc thiểu số như những loài hoa kỳ lạ sống bên nhau một cách tự nhiên, hài hòa. Ðiểm tô vào bức tranh Hợp Chủng Quốc đẹp tuyệt vời. Những cách biệt về văn hóa, tôn giáo, sự đa dạng về phong tục tập quán không hề chia cắt xã hội Hoa Kỳ. Ngược lại sự bảo tồn và phát huy văn hóa các nhóm sắc tộc càng làm cho Mỹ Quốc trở lên trẻ trung, phong phú, giầu có và hùng mạnh.
Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ gồm nhiều sắc tộc, nhóm da trắng chiếm đa số khoảng trên hai trăm triệu, bằng 70%. Ðiều thú vị là ngày nay Mỹ Quốc có một Tổng Thống da mầu, gốc Phi Châu. Chứng tỏ rằng các sắc tộc sống trên vùng lãnh thổ này đều bình đẳng, mọi tài năng đều có cơ hội phát triển...
Ðiều này hoàn toàn nghịch với Trung Hoa thanh tẩy tinh thần và hủy diệt văn hóa các sắc tộc trở thành một truyền thống của chủ nghĩa đại Hán. Ở đây tác giả chỉ muốn đưa ra hai hình ảnh, hai tính cách để đối chiếu hai nền văn hóa, nói một cách vắn tắt: Ðể thăng tiến toàn dân, đồng tiến trong một xã hội đa sắc tộc là niềm tin của giới lãnh đạo Hoa Kỳ, về một nền văn minh tinh thần nhân bản không dành riêng cho bất kỳ một giống người nào.
Ở Trung Hoa thì ngược lại, khái niệm "văn minh", "tiến bộ" thuộc về giống người Hán. "Lạc hậu", "sơ khai" là các nhóm thiểu số. Trong khi ở Mỹ giống người nào cũng có thể cất cánh như thiên thần và ý thức bảo tồn, coi trọng văn hóa các sắc tộc ở mọi tầng lớp nhân dân được thể hiện ở nhiều mặt, xem bài: "Con nuôi người Việt của các gia đình Mỹ và Tết Việt Nam" trên mạng RFA 12/2/2008.
Ðây là bài học đáng được chia sẻ với người Tầu nhất là các nhà lãnh đạo Bắc Kinh như Chủ tịch Hồ Cẩm Ðào, Thủ tướng Ôn Gia Bảo, Chủ tịch Quốc Hội nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa… và những kẻ lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam. Tác giả để nguyên văn bài viết này cho các vị nghiên cứu và suy ngẫm…
Con nuôi người Việt của các gia đình Mỹ và Tết Việt Nam
2008.02.12
Phương Anh, phóng viên đài RFA
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2008/02/12/AdoptedVnChildrenInAmericanFamiliesToCelebrateTet_PAnh/
Trong dịp Tết vừa qua, tại vùng Hoa Thịnh Đốn, Hoa Kỳ, một nhóm gia đình người Mỹ nhận các trẻ em Việt Nam làm con nuôi, đã tụ họp nhau lại để tổ chức ăn Tết với nhau, y như các gia đình người Việt. Được biết, hàng năm, họ đều tổ chức như thế và năm nay, nhóm này qui tụ được khoảng 60 gia đình đang sinh sống tại Washington DC và vùng phụ cận.
Từ ngày 25 đến 27-5 vừa qua, tính đến nay đã có khoảng 16,000 trẻ em Việt Nam được người nước ngoài nhận làm con nuôi. (AFP Photo)
Đây là một trong các sinh hoạt nhằm giúp các trẻ em Việt Nam, tuy được cha mẹ là người Mỹ nuôi dưỡng, lớn lên trong môi trường và văn hóa Hoa Kỳ, nhưng vẫn không quên nguồn gốc của dân tộc mình. Trong mục Câu Chuyện Hàng Tuần kỳ này, Phương Anh mời quí vị nghe những lời chia xẻ của các bậc cha mẹ người Mỹ, khi chăm sóc và dậy dỗ các con nuôi của mình là người Việt Nam.
Tìm hiểu về Việt Nam
Được biết, hầu hết các cặp vợ chồng người Mỹ, khi nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi, đều mong muốn tìm hiểu về đất nước, văn hóa và phong tục Việt Nam. Đồng thời, muốn biết thêm kinh nghiệm về cách nuôi dậy con cái mình sao cho vẫn giữ được cái "gốc" Việt Nam mà không ảnh hưởng đến văn hóa và nếp sống của người bản xứ.
Chính vì thế, vào năm 1990, bà Alison Martin, lúc bấy giờ cư ngụ tại Washington D.C, có con nuôi Việt Nam, đã nảy ra ý định thành lập tổ chức bất vụ lợi có tên " Families With Children From Vietnam" xin tạm dịch " Hội các gia đình có con nuôi từ Việt Nam". Từ đó đến nay, hội đã có thêm nhiều hội viên tham dự và lan rộng ra toàn quốc. Riêng tại vùng Hoa Thịnh Đốn, bà Kathleen Brown, người trực tiếp điều hành hội cho biết:
"Rất nhiều người trong các gia đình nhận trẻ Việt Nam làm con nuôi luôn muốn giữ gìn phong tục tập quán của Việt Nam, muốn tìm hiểu và chia xẻ những kiến thức với mục đích làm sao để giúp cho các em hiểu được nguồn gốc của mình. Vì thế, chúng tôi đã tham gia Hội Các Gia Đình Có Con Nuôi Từ Việt Nam.
Hàng năm, vào dịp Tết, chúng tôi tụ họp nhau lại, cho các em có dịp mặc áo dài, khăn đống, vui chơi với nhau. Năm nay, chúng tôi tổ chức cho các gia đình gặp nhau vào ngày thứ 7 và có bữa ăn trưa với các món ăn truyền thống của người Việt như chả giò, gỏi cuốn…Các em coi múa lân, mặc áo dài đi vòng vòng.
Đây cũng là ngày chúng tôi nhắc nhở cho các em biết rằng các em từ đâu tới… Khi chúng tôi đến sinh hoạt với nhau là để chia xẻ những thông tin, những kinh nghiệm với nhau hầu giúp cho chúng tôi nuôi dậy các cháu tốt hơn. Ngoài ra, một số gia đình còn tham gia vào các tổ chức từ thiện để giúp cho đồng bào nghèo ở Việt Nam, hoặc đón nhận các em học sinh đến từ Việt Nam qua chương trình trao đổi văn hóa.
Rất nhiều người trong các gia đình nhận trẻ Việt Nam làm con nuôi luôn muốn giữ gìn phong tục tập quán của Việt Nam, muốn tìm hiểu và chia xẻ những kiến thức với mục đích làm sao để giúp cho các em hiểu được nguồn gốc của mình. Vì thế, chúng tôi đã tham gia Hội Các Gia Đình Có Con Nuôi Từ Việt Nam"."
Bà Kathleen Brown
Được biết, bà Kathleen Brown có hai con nuôi Việt Nam, một cháu lên 6 và một cháu mới lên 2. Khi hỏi thăm về các con của bà, bà cho biết:
Các cháu rất thích đồ ăn Việt Nam. Thỉnh thoảng, tôi làm gỏi cuốn mà tôi đã học được từ đoàn nữ Hướng Đạo Việt Nam, hay bánh chuối, bánh bột lọc…Các con tôi rất thích. Gia đình tôi thường đi ăn nhà hàng Việt Nam và các cháu rất thích phở, gỏi cuốn.
Đặc biệt, ngày Tết thì chúng tôi cùng một số gia đình khác đưa các cháu đến một nhà hàng Việt Nam và đặt các món ăn truyền thống của người Việt như canh chua, cá kho tộ, phở, gỏi cuốn…hoàn toàn là đồ ăn Việt Nam.
Riêng với vợ chồng thầy giáo John Clisham, ở thành phố Arlington thì rất yêu thích trẻ em Việt Nam. Mặc dù cả hai vợ chồng đã có với nhau một bé gái, nhưng năm 2002, anh chị đã nhận thêm một cháu trai và năm vừa qua, lại nhận thêm một cháu nữa. Anh kể:
"Chúng tôi nhận William làm con nuôi vào tháng 4 năm 2007 tại trại mồ côi ở Quảng Trị. Còn cháu Nicholas thì 6 tuổi và nay đã học lớp 1 rồi. Tôi nhận cháu Nicholas năm 2002, lúc đó cháu được 7 tháng.
Mỗi khi Tết Việt Nam đến thì chúng tôi tham dự bữa ăn tối với nhóm gia đình nhận trẻ Việt Nam làm con nuôi tại một nhà hàng Việt Nam ở vùng Falls Church, Virginia. Chúng tôi gặp rất nhiều gia đình khác có con nuôi Việt Nam. Chúng tôi có rất nhiều sách nói về phong tục, tập quán của Việt Nam.
Do đó, chúng tôi cũng hiểu phần nào và thường cũng trang hoàng nhà cửa vào ngày Tết Việt Nam. Chúng tôi cũng mua cành mai vàng giả ở khu chợ Việt Nam về để trưng trong nhà, rồi còn cho các cháu mặc áo dài, khăn đống đi hội chợ Tết trong vùng."
Không quên nguồn gốc
Cũng giống như anh chị John Clisham, vợ chồng anh Andrew Berman, cư ngụ tại Washington D.C, đã nhận hai trẻ mồ côi Việt Nam và luôn mong ước con mình sẽ không quên nguồn gốc của chính mình. Chúng ta hãy nghe anh tâm sự:
"Tôi đem cháu về nuôi khi mới được 5 tháng tuổi. Cháu ở trại mồ côi tại tỉnh Bà Rịa. Và tôi cũng mới nhận thêm một cháu được 8 tháng tuổi. Vợ chồng tôi cố gắng nuôi dậy cháu ở Hoa Kỳ, nhưng chúng tôi luôn mong muốn rằng cháu phải biết về phong tục tập quán của Việt Nam càng nhiều càng tốt .
Nguyên nhân chính là vì mặc dù các em được nuôi dưỡng và lớn lên tại Hoa Kỳ, nhưng hình dong của các em luôn là người Á Châu. Do đó, lớn lên ở Hoa Kỳ, nhưng chúng tôi muốn rằng các em sẽ tự hào về nguồn gốc của mình, các em biết rõ các em từ đâu tới, được hiểu càng nhiều càng tốt.
Anh Andrew Berman
Chính vì thế, hàng năm, ngày Tết đến, chúng tôi đưa cháu đi tham dự chợ Tết tại vùng Washington D.C. Trong những năm qua, chúng tôi đều tham dự hai buổi họp mặt của hai nhóm, một là của dịch vụ giúp nhận trẻ mồ côi tại Việt Nam, hai là của các gia đình người Mỹ có con nuôi Việt Nam.
Chúng tôi đến đó gặp mặt nhau để cùng trao đổi kinh nghiệm và chia xẻ với nhau trong vấn đề nuôi dậy các trẻ em Việt Nam như thế nào, làm sao để chúng thích hợp với môi trường tại Hoa Kỳ nhưng vẫn biết và giữ được phong tục tập quán của Việt Nam. Các em thì mặc áo dài, đội khăn đống.
Cha mẹ nào cũng cố gắng tìm mua cho các em mặc trong ngày đó. Chúng tôi đặt đồ ăn Việt Nam tối và điều lạ là các em rất thích món ăn Việt Nam. Ngoài ra, còn có mục lì xì cho các em nữa. Chúng tôi bỏ tiền vào bì thư màu đỏ và cho các em rút thăm."
Khi được hỏi rằng, nguyên nhân vì đâu anh lại quyết định nhận con nuôi Việt Nam và lại muốn cho con của mình giữ truyền thống văn hóa Việt Nam, anh cho hay:
"Nguyên nhân chính là vì mặc dù các em được nuôi dưỡng và lớn lên tại Hoa Kỳ, nhưng hình dong của các em luôn là người Á Châu. Do đó, lớn lên ở Hoa Kỳ, nhưng chúng tôi muốn rằng các em sẽ tự hào về nguồn gốc của mình, các em biết rõ các em từ đâu tới, được hiểu càng nhiều càng tốt.
Bên cạnh đó, tôi rất yêu thích đất nước và con người Việt Nam. Tôi đi du lịch Việt Nam năm 1992 và tôi rất thích Việt Nam, chính vì thế, tôi đã quyết định nhận con nuôi từ Việt Nam, mặc dù chúng tôi đã có một cháu gái, nhưng chúng tôi đã nhận thêm hai cháu trai nữa"."
Còn anh John Clisham thì rất tự hào về hai cậu con trai người Việt của mình và cho hay rằng:
"Tôi luôn mong rằng các cháu sẽ luôn giữ được nguồn gốc của các cháu. Cháu Nicholas rất hay nói về Việt Nam. Tôi có một phòng riêng dành để trang trí theo kiểu Việt Nam và treo tranh Việt Nam. Cháu rất thích chơi ở trong phòng đó. Cháu còn biết một chút xíu về Đức Phật mặc dù chúng tôi đã rửa tội cháu theo nghi thức người Công Giáo.
Chúng tôi luôn trò chuyện với cháu về Việt Nam. Thỉnh thoảng, khi đi chơi với chúng tôi, cháu gặp người Á Châu thì nói liền: "Trông kìa, ông ấy giống như con". Tôi nghĩ rằng cháu hiểu rõ cháu là người nước nào mặc dù cháu mới chỉ lên sáu mà thôi. Cháu rất vui mừng khi tôi nhận thêm một em nữa từ Việt Nam làm con nuôi.
Chúng tôi nhận thấy các em phát triển rất tốt, phải nói là về mọi mặt ở Mỹ. Nhưng, điều vô cùng quan trọng là các em phải hiểu về nguồn gốc của mình, về đất nước nguyên thủy của mình. Đó chính là Việt Nam. Khi các em ra đường, mọi người nhận ra ngay, các em được chúng tôi nhận làm con nuôi."
Bà Kathleen Brown
Sinh hoạt với cộng đồng người Việt
Một phụ nữ Mỹ khác mà Phương Anh cũng gặp là chị Kathy Rafferty, đang sinh sống tại thành phố Falls Church, bang Virginia. Năm 1992, chị đã về Việt Nam nhận một cháu trai làm con nuôi, chị kể lại:
"Tôi có nhận một đứa con nuôi Việt Nam, bây giờ 9 tuổi, cháu được 2 tháng khi tôi nhận cháu về. Hàng năm, Tết Việt Nam đến, gia đình chúng tôi đều đi tham dự cuộc họp mặt của các gia đình có con nuôi Việt Nam và buổi họp mặt do Tòa Đại Sứ Việt Nam tổ chức ở Washington DC. Từ hồi cháu được mấy tháng đến nay, năm nào chúng tôi cũng tham dự cả."
Được hỏi lý do vì sao trong suốt 10 năm qua, chị luôn đem con tới sinh hoạt vào dịp Tết Việt Nam, chị cho biết:
"Lý do là khi tôi nhận cháu làm con nuôi, năm 1998, tôi đã được văn phòng giới thiệu khuyên tôi là mặc dù tôi là người Mỹ, nhưng nếu tôi muốn nhận cháu Việt Nam thì sau này nên cho cháu biết về phong tục và văn hóa của người Việt…
Khi cháu lớn lên với gia đình người Mỹ, với cộng đồng người Mỹ thì cháu sẽ dễ dàng biết được nguồn gốc của mình, sẽ dễ hội nhập hơn với mọi người chung quanh. Một nguyên nhân khác nữa mà tôi muốn đem cháu đến tham dự ngày Tết Việt Nam là vì khi tôi ẵm cháu từ trại mồ côi, tôi đã hứa với người phụ trách bên phía Việt Nam rằng sẽ nhắc nhở cho cháu về nguồn gốc của mình, sẽ giúp cháu biết được phong tục tập quán của người Việt, giúp cháu tự hào về dân tộc của mình, để một ngày kia, cháu sẽ trở về với quê hương của cháu. Tôi đã giữ lời hứa đó một cách trân trọng và cố gắng làm tất cả những gì có thể."
Cũng theo lời bà Kathleen Brown cho biết, người điều hành Hội Gia Đình Trẻ Em Việt Nam tại vùng Hoa Thịnh Đốn, thì ngoài việc tụ họp sinh hoạt với nhau trong dịp Tết, các gia đình còn tìm cách cho các em có cơ hội gần gũi với cộng đồng người Việt qua các sinh họat, bà nói:
"Một số gia đình còn cho các em học tiếng Việt. Con gái nuôi tôi tham gia đoàn nữ hướng đạo Việt Nam. Chúng tôi làm những việc như thế vì chúng tôi nghĩ rằng Việt Nam là quê hương, là nguồn gốc của các em. Điều này rất quan trọng với các em vì các em phải hiểu các em từ đâu mà đến quốc gia này, tổ tiên các em là ai…mặc dù các em lớn lên ở Hoa Kỳ.
Chúng tôi nhận thấy các em phát triển rất tốt, phải nói là về mọi mặt ở Mỹ. Nhưng, điều vô cùng quan trọng là các em phải hiểu về nguồn gốc của mình, về đất nước nguyên thủy của mình. Đó chính là Việt Nam. Khi các em ra đường, mọi người nhận ra ngay, các em được chúng tôi nhận làm con nuôi.
Rất nhiều người đã đến hỏi con tôi là từ đâu đến? Nhật Bản, Hàn Quốc hay Trung Hoa, nhưng con gái tôi đã trả lời rất tự hào: Việt Nam. Chính vì thế, chúng tôi càng phải làm sao để các cháu luôn hãnh diện khi nhắc đến nguồn gốc của mình.’"
Quý vị và các bạn vừa nghe những lời tâm tình của một số phụ huynh người Mỹ, có con nuôi là Việt Nam. Ước mong sao việc duy trì văn hóa Việt Nam của họ với những trẻ em người Việt mãi mãi được bền vững, để rồi mai đây, khi các em lớn lên, sẽ giúp các em nhớ đến dòng máu Việt mang trong mình.
Phương Anh
*
* *
Hầu hết các nhà lãnh đạo nước Tầu xưa cũng như nay, đều có tật chung là chủ quan, thích phô trương quá mức về những cái hay cái tốt của dân tộc mình, che đậy mọi cái yếu kém. Họ thường chê bai văn hóa Mỹ và đem so đọ hơn 200 năm lịch sử của Hoa Kỳ với chiều dài trên 5000 năm của văn hóa Trung Hoa.
Nhưng bất cứ ai nghe và đọc bài: "Con nuôi người Việt của các gia đình Mỹ" đều nhận ra, một điểm ngời sáng, tròn đầy tự nhiên không có đảng nào lãnh đạo, không có mầu sắc chính trị xen vào, cái thứ văn hóa siêu việt mà ngàn đời người Tầu không thể đi đến. Thứ văn hóa như mặt trời chiếu sáng bình đẳng, bao dung cùng khắp hoàn vũ, nói theo kiểu nhà Phật: Nó như những hạt giống bồ đề tâm được vun trồng và phát triển trên giải đất Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ thành vô số hành động đại bi như những đóa hoa sen nở rộ, biểu hiện phẩm tính cao quý của con Người. Một thứ nhân cách lấy con người làm bản vị mà trên hết là những hành động thực tiễn. Khác hẳn với văn hóa Trung Hoa, mục đích không phải để mở mang, mà người Tầu muốn biến văn hóa Hán thành một thứ tôn giáo, và lấy việc bài trừ, hủy diệt các nền văn hóa khác làm mục tiêu chính yếu. Chủ trương hủy diệt tận gốc mọi nền văn hóa được quán triệt trong mọi lãnh vực. Thời nhà Minh với nước ta năm 1406 là một thí dụ điển hình bất nhân đẩy tới một tình trạng man rợ, đã trở thành sứ mệnh được nhận thức hoàn chỉnh bởi những kẻ cầm đầu. Với ảo tưởng có thể xóa sạch hiện tại và quá khứ của một dân tộc đã có trên 4000 năm văn hiến.
Trong tờ biểu dâng sách Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư, Ngô sĩ Liên bùi ngùi than thở:
"… cướp quyền chính, lũ gian thần được thể!
Lấn đất đai, quân địch quốc thừa cơ
Binh tung sang, căm lũ giặc Minh giáo gươm đầy đất!
Lửa đốt sách, thương ôi vận nước, sách vở đi đời.
Muốn tìm sự tích sau cơn khói lạnh tro tàn.
Thật khó rất khổ tâm về nét sai chữ sót."
Ðọc đoạn văn trên, chúng ta thấy nhà Minh Trung Hoa không chỉ có tội với dân tộc ta mà còn có trọng tội với nhân loại trong âm mưu và hành động hủy diệt mọi nền văn hóa của dân tộc khác.
Lịch sử Trung Hoa là sự nối dài… một sự hóa thân thâm hiểm là nhường nào? Sắc thái tư tưởng ấy có ích gì cho nhân loại!?
Tôi viết ra đây, cũng không kỳ vọng là người Tầu có thể thay đổi cách suy nghĩ, cách nhìn… và các nhà lãnh đạo Trung Hoa có thể khiêm tốn học hỏi được điều gì hay ở văn hóa Mỹ Quốc, bởi vì giấc mộng Hán hóa 1000 năm chẳng lẽ biến đi trong thoáng chốc mặc dù nhịp bước của lịch sử mỗi lúc càng mau lẹ thêm. Nhưng trong quá khứ cũng như hiện tại, Mao Trạch Ðông, Ðặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân đến Hồ Cẩm Ðào cùng một lối nghĩ như tổ tiên của họ. Thời nào cũng tích cực tiêu diệt các nền văn hóa khác, Tây Tạng ngày nay là một điển hình. Ðức Ðạt Lai Ðạt Ma đã nhiều lần kêu gọi quốc tế mở cuộc điều tra tại Tây Tạng về tội hủy diệt văn hóa Tây Tạng của Trung Cộng . Việc hủy diệt văn hóa các dân tộc khác với người Trung Hoa là một truyền thống, và đề cao văn hóa Hán cũng là một thói quen. Nhưng họ lại tự nhận mình là tinh hoa văn hóa của nhân loại, bốn phương trong trời đất không đâu bằng. Riêng đối với văn hóa Phương Ðông họ chỉ lấy lưu vực sông Hoàng Hà được xem là chiếc nôi của nền văn minh Phương Ðông thì rõ ràng là quá hẹp. Trái lại phải thấy nguồn gốc của nền văn hóa Phương Ðông là đa nguyên, cho dù nước Tầu sau khi Tần Thủy Hoàng đã thống nhất và Trung Hoa cai trị nhiều dân tộc khác nhưng sự khác nhau về văn hóa ở các nước khác vẫn luôn luôn tồn tại.
Muốn biết sự hình thành của một nền văn hóa, chúng ta không thể không tìm hiểu những khám phá mới của nhà khảo cổ và nhân chủng học qua việc đào bới những di chỉ khảo cổ. Bộ môn này sẽ cống hiến rất nhiều tia sáng kỳ diệu vào con đường chúng ta tìm đến nền văn minh chân thật, đem ánh sáng khoa học thực nghiệm vào để đánh giá, xác định các sự kiện lịch sử là cần thiết.
Với nền văn hóa Việt Nam. Theo kết quả của những cuộc tìm tòi sự hình thành và tiến triển của nền văn hóa Việt Nam, được các nhà chuyên môn chia văn hóa Việt Nam trước thời Trung Hoa đô hộ (trước Tây Lịch) làm ba thời kỳ chính: Văn hóa Hòa Bình, văn hóa Bắc Sơn và văn hóa Ðông Sơn.
A- Văn hóa Hòa Bình
Văn minh cổ thạch ở Hòa Bình: Gồm những đồ đá có đục lỗ (một điểm chưa hề thấy ở các nơi khác). Ðược bà Madeleine Colani phát hiện năm 1920 sau khi tìm thấy những hang động người tiền sử cư ngụ tại một làng thuộc tỉnh Hòa Bình, Bắc Việt. Trong thời gian này người ta đã đào được những dụng cụ bằng đá hình bầu dục, tròn, tam giác được mài nhẵn một mặt. Họ cũng tìm thấy những hòn đá mài rất tinh xảo được dùng để mài các dụng cụ: Văn hóa Hòa Bình được định tuổi 8000 đến 6000 trước Tây Lịch, thuộc thời đồ đá giữa hay trung thạch (Mesolithic). Sau đó còn tìm thấy ở các tỉnh Hà Tây, Nam Hà, Ninh Bình và Thanh Hóa. Hang Sùng Sàm và khu di chỉ Hương Sơn có niên đại cách đây 10 ngàn năm. Các chuyên viên người Ðức đã thí nghiệm mẫu C-14 và thấy các hiện vật ở đây có 11 ngàn năm trước, (tức 9 ngàn năm trước Tây Lịch). Hiện vật khảo cổ cho biết thu lượm trồng trọt và đi săn là hai phương thức kiếm sống chính ở đây. Nên các nhà khảo cổ và nhân chủng học mới đọc tên chung cho thời đại này là văn hóa hay (văn minh) Hòa Bình. Ông Carl O. Sauer, người Mỹ, trong cuốn "Agriculture Origins And Dispersals" xuất bản tại New York năm 1952 đã xác nhận văn hóa Hòa Bình là văn hóa Lúa Nước được trồng cùng lúc với củ khoai môn (khoai sọ), và Ðông Nam Á là cái nôi của nền văn minh nông nghiệp xưa nhất, trung tâm thế giới sớm nhất về kỹ thuật trồng trọt, thuần hóa và tái sinh sản xuất thực vật.
Tất cả những khám phá trên đã được nhóm nghiên cứu của GS Wilheim G. – Solheim II xác định sau khi mở những cuộc khai quật và nghiên cứu khắp miền Ðông Nam Á... sang tới tận Úc Châu.
Tại một di sản khảo cổ ở Bắc Thái, họ đã tìm thấy những hạt thóc loại Oriza Satia và một mảnh sành có niên hiệu 3500 năm trước Tây Lịch. Hạt lúa này có sớm hơn lúa được khai quật ở Trung Hoa và ở Ấn Ðộ 1000 năm, theo ông, giả thuyết cho rằng văn hóa Ðông Nam Á được du nhập từ miền Bắc Trung Hoa là hoàn toàn sai lầm. Ngược lại vào thời đại Tân Thạch, nền văn hóa Bắc Trung Hoa bắt nguồn từ một chi của nền văn hóa Hòa Bình Việt Nam ở phía Bắc Ðông Nam Á vào khoảng 6000 hay 7000 năm trước Tây Lịch. Như vậy không phải là từ trên đi xuống mà từ dưới đi lên. Ông nhấn mạnh rằng nền văn hóa Long Sơn không phải phát sinh từ Ngưỡng Thiền ở miền Bắc Trung Hoa mà phát sinh từ miền Nam rồi lan lên phía Bắc. Cả hai nền văn hóa Long Sơn và Ngưỡng Thiền đều bắt nguồn từ nền văn hóa Hòa Bình.
Những phát giác trên đây đã đảo ngược mọi lý thuyết và định kiến từ trước tới nay cho rằng Trung Hoa là cái nôi văn hóa của vùng Ðông Nam Á.
Ðiều này khiến chúng ta phải xét lại sử liệu liên quan đến việc hai viên quan thái thú Tầu là Tích Quang và Nhâm Diên đã dậy dân Việt dùng cày bừa cấy lúa vào thế kỷ đầu tây lịch, cũng như quan điểm cho rằng người Tầu là thầy văn hóa cho dân ta và các dân tộc Ðông Nam Á. Bây giờ thì lịch sử đã trả lời, ai là thầy, ai khai hóa cho ai?
B- Văn hóa Bắc Sơn
Ðiểm nổi bật thứ hai là văn minh Tân Thạch ở Bắc Sơn: với đồ đá mới hay Tân Thạch (neolithic) xuất hiện từ 6000 năm tới 8000 năm trước Tây Lịch. Ðáng chú ý của thời kỳ này là con người đã nắm vững kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi thú vật, biết chế tạo đồ gốm rất tinh xảo và sản xuất những dụng cụ rất tiến bộ, so với các nơi khác trong vùng Ðông Nam Á. Những hiện vật này do nhóm của ông Henri Mansuy, tìm được ở một động giữa hai tỉnh Lạng Sơn và Thái Nguyên.
C- Văn minh kim khí Ðông Sơn
Văn minh Ðông Sơn thuộc thời đại đồ đồng, tìm thấy ở tỉnh Thanh Hóa gần cầu Hàm Rồng, đồ đồng (Bronze Age, Âge du bronze) từ 800 đến 111 trước Tây Lịch. Tiêu biểu là những trống đồng được phát hiện vào đầu thế kỷ 20: tại làng Ðông Sơn, huyện Ðông Sơn, tình Thanh Hóa, tại Phủ Lý ở làng Ngọc Lũ thuộc tỉnh Hà Bắc, Bắc Việt. Ðây là một bước tiến vượt bực từ thời Thạch Khí sang thời Ðồng Ðen mà nổi bật nhất là Trống Ðồng Ngọc Lũ chạm trổ rất mỹ thuật, trống đồng còn tìm được khắp địa bàn nước Văn Lang cũ. Ngoài ra, người ta còn tìm được nhiều Thạc Ðồng, Thau Ðồng và các dụng cụ bằng đồng khác tại các di khảo khai quật ở Ðông Sơn. Ðặc biệt là hàng chục ngàn mũi tên bằng đồng tại thành Cổ Loa. Những dấu tích lịch sử như tuổi thơ ấu và niên thiếu của dân tộc không còn là huyền thoại nữa. Nhưng chủ đề của cuốn sách này không phải là trình bầy chi tiết các công trình khảo cổ hoặc nhân chủng học, chúng tôi chỉ lướt qua, không chú trọng nhiều vào phần khảo cổ còn rất nhiều những dữ kiện thuộc tiền sử, khảo cổ, nhân chủng học, những điều nhắc đến trên đây chỉ có một giá trị tương đối. Tuy nhiên nó cũng mở ra một thực tại quan trọng. Văn hóa có nhiều khía cạnh, khía cạnh tâm linh tình cảm mỹ thuật thì nó rất lớn lao cho việc di dưỡng tinh thần.
Ở trên đất nước Việt Nam bao gồm những vùng có hoàn cảnh địa lý khác nhau: miền núi, miền đồng bằng, miền duyên hải Việt Nam phần lớn là nơi cư trú của 54 dân tộc thiểu số và có những nét rất riêng biệt về ngôn ngữ, về phong tục tập quán, về các sinh hoạt vật chất như: Ẩm thực, trang phục v.v… trải qua bao ngàn năm sống với nhau những dân tộc và tộc người anh em không đánh mất bản sắc văn hóa mà còn phát huy tính đa dạng của mình. Bản sắc đa dạng ấy đã không tạo nên ở họ một hàng rào ngăn cách với người anh em. Ngược lại, họ luôn luôn tự coi mình là những thành viên máu thịt của cộng đồng Việt Nam.
Nhưng đến thời Hồ Chí Minh thì bắt đầu có hàng rào ngăn cách Kinh-Thượng!
Bằng sắc lệnh số 230 SL. Ngày 29-4-1955 họ Hồ ký sắc lệnh thành lập khu tự trị Thái Mèo như một nhát dao chặt xả vai nước Việt (trong khi các chiến dịch CCRĐ do cố vấn Trung Quốc chỉ đạo đang diễn ra khốc liệt trên toàn miền Bắc). Đến năm 1962 khu tự trị Thái Mèo đổi thành khu tự trị Tây Bắc. Ngày 27-12-1975 quy chế tự trị bãi bỏ nhưng tinh thần tự trị vẫn còn nguyên (vụ Thượng Tướng Chu Văn Tấn, chủ tịch khu tự trị Việt Bắc bị bắt và giam đến chết vẫn còn là một bí mật).
Âm mưu của Trung Quốc tách các dân tộc thiểu số phía Bắc ra khỏi đại khối dân tộc Việt Nam. Chỉ sau một năm hòa bình, lúc bấy giờ viên cố vấn Trung Quốc La Quý Ba giữ vai trò cố vấn chính trị tổ chức toàn bộ cơ cấu chính quyền CSVN muốn thực hiện gian kế thâm độc này qua chế độ bảo hộ Hồ Chí Minh được dán nhãn hiệu: "Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa độc lập tự do hạnh phúc". Ban đầu nó được dân chúng hưởng ứng, tiếp theo sau là đám hỏa mù về cuộc kháng chiến chống Pháp thần thánh với biết bao nhiêu vòng hào quang quanh lãnh tụ được tới tấp gởi đi trên thế giới, mà người ta chỉ thấy những điều tốt đẹp. Nhưng một điều hiển nhiên bị che lấp đi, đó là sự có mặt của các đoàn chuyên gia cố vấn Trung Quốc, ở khắp các ngành bộ từ Trung Ương đến địa phương.
Trong suốt sáu thập niên qua những âm mưu thôn tính Việt Nam của Trung Quốc chưa bao giờ dừng lại, cho dù sự biểu hiện khác nhau qua từng thời kỳ, khi ngấm ngầm lúc trắng trợn, không việc làm nào của họ là không ẩn dấu một âm mưu xâm lược nước ta.
Xâm lăng có hai hình thức:
1- Xâm lăng thô thiển: Người Tầu kéo quân vào đánh chiếm Việt Nam, đồng thời thành lập hệ thống hành chánh Thái Thú, để trực tiếp cai trị Việt Nam. Trên Thái Thú có chức Thứ Sử, còn gọi là Châu mục do triều đình Phương Bắc cử sang để kiểm tra các quan lại đô hộ. Phủ trị Thứ Sử đóng ở Long Uyên (Bắc Ninh ngày nay). Thứ Sử đầu tiên đến nước ta là Thạch Đái, các Thái thú Tích Quang, Nhân Diên thuộc (Tây Hán), Tô Định, Trương Kiều, Sĩ Nhiếp thuộc (Đông Hán) v.v... đó là 1000 nămTầu đô hộ nước ta!
2- Xâm lăng tinh vi: là nuôi và dậy các lãnh tụ, thành lập một chính phủ độc lập trá hình. Thay vì trực tiếp cai trị Việt Nam, bằng chế độ Thái Thú 1000 năm trước. Từ năm 1955 cho đến nay, người Tầu gián tiếp cai trị Việt Nam qua chế độ bù nhìn đảng CSVN được dàn dựng hết sức tinh vi nhưng nó mỗi ngày càng lộ rõ bản chất bù nhìn của những người lãnh đạo đảng CSVN.
Về phương diện an ninh quốc phòng các tỉnh phía Bắc là lá chắn nếu lá chắn bị gỡ bỏ thì sinh mạng Việt Nam như ngàn cân treo sợi tóc.
Từ lâu âm mưu của Bắc Kinh muốn cắt khu tự trị Thái Mèo gồm các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Sơn La và Lai Châu, Ba tỉnh này Bắc giáp Trung Quốc, Tây và Nam giáp Vương Quốc Lào, Đông Nam giáp tỉnh Hòa Bình, Đông giáp dẫy núi Păng-Xi-Tăng. Từ ngàn xưa các dân tộc sinh sống ở đây bao nhiêu đời vẫn gắn bó với anh em người Kinh.
Cái gì đã gắn bó họ với nhau? Trước hết là những giá trị phổ biến mang tính nhân bản, nhân loại, những giá trị đã trở thành cốt lõi của nền văn hóa Việt Nam, những mục tiêu phấn đấu chi phối lý tưởng, hành xử và ứng xử của con người Việt Nam trên dải đất hình chữ S như định mệnh đã buộc số phận riêng của mỗi tộc ở đất nước này vào vận mệnh chung của cả cộng đồng dân tộc. Vì điều kiện sống còn họ phải cùng nhau đương đầu với quân xâm lược thường xuyên từ phương Bắc. Họ nhất thiết phải đoàn kết và học hỏi lẫn nhau, phải cùng nhau chiến đấu để bảo vệ Tổ Quốc. Chính vì thế mà tính đa dạng của văn hóa không đi ngược lại với những giá trị cơ bản mà dân tộc và nó chỉ có ý nghĩa khi phục vụ những giá trị ấy.
Ðối với Việt Nam thế hệ trẻ cần đi sâu để rút ra những bài học lịch sử, những bài học còn tiếp tục có ý nghĩa sâu sắc đối với sứ mệnh bảo vệ và phát triển tính đa dạng của văn hóa Việt Nam hôm nay và ngày mai.
Vì sao suốt mấy ngàn năm trên đất này chưa hề có những sự xung đột đẫm máu giữa các sắc tộc thiểu số và Kinh, trong khi từ xưa tới nay, lịch sử nhân loại đã thấy rất nhiều cuộc xung đột sắc tộc và tôn giáo xảy ra?
Vì sao ngay từ những năm đầu xây dựng thủ đô Thăng Long của Triều Lý đến triều Trần, những nhà cầm quyền ở Việt Nam đã chủ động đoàn kết ba tôn giáo lớn nhất ở Việt Nam là Nho giáo, Phật giáo, Ðạo giáo và phát huy những nhân tố tích cực của các tôn giáo cho sự nghiệp chung của dân tộc? Và vì sao trong giai đoạn dài gần 4 thế kỷ cực thịnh của Việt Nam với tinh thần "tam giáo đồng nguyên" lại chưa từng xẩy ra mâu thuẫn ý thức hệ?
Tôi nghĩ rằng: dù là Nho giáo, Ðạo giáo, Phật giáo, tín ngưỡng dân gian, một khi từ Ấn Ðộ hay Trung Hoa đến, thì người Việt Nam đều chuyển nó thành những cách lý giải thích hợp như đã đề cập ở phần trước. Phật Giáo du nhập vào nước ta trước nhất từ cuối thời đại Hùng Vương, song tiền nhân ta tiếp thu Phật Giáo trên cơ sở tín ngưỡng sẵn có của mình là thờ Tổ Tiên, thờ Nhân Thần anh hùng có công dựng nước và giữ nước, có hàng ngàn ngôi đền thờ các vị anh hùng dân tộc ở khắp cả nước nhất là thủ đô Thăng Long (Hà Nội).
Phật Giáo phủ định thần quyền, người Việt tin có ông Trời và toàn làm những điều không có trong Phật Giáo. Cho nên nhiều giáo điều nguyên tắc của đạo Phật, thuộc giới luật hàng đầu chẳng hạn như giới "cấm sát sinh", mà trong nhiều trường hợp, người Việt ý thức ngược lại, thời nhà Trần, giặc Nguyên vào xâm lăng nước ta. Tất cả binh sĩ đều khắc lên vai hai chữ "sát thát", quả là một dụng ý rất khác lạ.
Mấy ông vua Phật Giáo ứng dụng lời chỉ dậy của Ðức Thế Tôn "phá chấp".
Phá chấp trong đạo Phật không phải là điều mới mẻ gì, trong kinh luận nhà Phật, đặc biệt là "Bát Nhã Tâm Kinh" thì có Phật tử thời nào, nước nào chẳng đọc tụng trì chú hàng ngày.
Nhưng chỉ có những người có trí huệ siêu quần như ông cha chúng ta mới có thể ứng dụng, "phá chấp" một cách hợp lẽ đạo để cứu đời.
Cũng trong trường hợp bị ngoại bang xâm lăng, Phật Giáo Ấn Ðộ "giữ giới cấm sát sinh" quá kỹ! nên bị Hồi giáo tiêu diệt hoàn toàn, nước Ấn Ðộ cũng mất, làm cho Phật Giáo không còn đất dung thân ở Ấn Ðộ, di hại còn đến ngày nay, anh em ruột thịt Hồi-Ấn không ngừng giết nhau đến bây giờ!
Nhiều tôn giáo đặt niềm tin và quyền lợi tôn giáo lên trên Tổ Quốc, xem nhẹ bổn phận công dân, người Việt đặt nặng nghĩa vụ bổn phận công dân với Tổ Quốc. Không vượt lên trên Tổ Quốc ra ngoài phạm vi độc lập dân tộc và vì sao quan hệ mật thiết giữa các dân tộc thiểu số với dân tộc người Kinh là đa số, lại không tạo nên sự "đồng hóa" mà ngược lại đã duy trì và phát huy bản sắc đa dạng của mỗi nền văn hóa cộng đồng Việt Nam?
Tôi nghĩ rằng chính vì lợi ích cao cả của cộng đồng Việt Nam, mà đã tạo nên lòng khoan dung.
Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn
Và sự tin cậy lẫn nhau khiến cho các tộc người anh em đều an tâm và phát triển nền văn hóa đa dạng của mình trong tinh thần đa dạng của văn hóa dân tộc, và khi tiếp thu văn hóa Ấn Ðộ hay Trung Hoa, Việt Nam lấy độc lập dân tộc làm nét quy chiếu đầu tiên cho mọi tiếp thu…
Những ứng xử nói trên trong văn hóa truyền thống. Tự do tín ngưỡng và đoàn kết dân tộc trở thành quốc sách lớn của các triều đại Việt Nam.
Cái tên Việt Nam được tạo thành bằng sự kết hợp hai yếu tố cơ bản: Việt và Nam.
Việt là tên gọi chung cộng đồng cư dân nước ta mà từ thời xưa cổ thường được gọi là Bách Việt hay Việt tộc để chỉ các tộc người không phải giống Hán ở phía Nam sông Trường Giang từ miền Nam Trung Hoa cho đến miền Bắc nước ta. Với ký ức cội nguồn đó, nhân dân ta thường tự gọi mình là người Việt (dân Việt, nước Việt…)
Nam là phương Nam và trong quan niệm đối sách, nhân dân ta dùng nước Nam (Nam Quốc). Vua Nam (Nam Ðế). Sử Nam, người Nam (Nam nhân)… để chỉ nước ta và phân biệt với nước Bắc (Bắc Quốc). Vua Bắc, Sử Bắc (Bắc Sử), người Bắc (Bắc nhân) v.v… để chỉ Trung Hoa. Chữ "Nam Quốc" và "Nam đế" đã được xử dụng bởi Thiền sư Việt Nam và trong bài thơ (Nam Quốc sơn hà Nam đế cư) của Lý Thường Kiệt.
Vấn đề lịch sử Việt Nam đối với các học giả Phương Tây.
Sau chiến tranh Thế giới thứ Hai, các công trình nghiên cứu lịch sử Việt Nam viết bằng tiếng Anh của các học giả Phương Tây xuất hiện ngày càng nhiều, góp phần rất quan trọng cho sự ra đời và phát triển của nghành Việt học hay Việt Nam học. Tác phẩm của các học giả này cho thấy rằng họ đã nghiên cứu lịch sử Việt Nam có hệ thống, đi từ tiền sử qua cổ sử, cho đến thời cận hiện đại. Ðáng lưu ý rằng hầu hết các học giả này đều thạo tiếng Việt, khai thác hiệu quả cả tài liệu Hán-Nôm. Họ có điều kiện thuận lợi để tiếp cận các kho tài liệu phong phú ở nhiều nguồn khác nhau, kể cả các văn khố nổi tiếng của Trung Quốc. Nhật Bản, Việt Nam… cho nên đọc họ, người Việt Nam có cái thú vị bất ngờ là được biết thêm những điều mới mẻ rất bổ ích về đất nước, dân tộc của mình, mà quyển sách NHỮNG VẤN ÐỀ LỊCH SỬ VIỆT NAM là một điển hình.
Sách tập hợp tám bài viết về lịch sử cổ trung đại Việt Nam của năm nhà sử học tên tuổi: Stephan Denis O’Harrow (Ðại học Hawaii); Li Tana (Ðại học Wollogong); Keith Weller Taylor (Ðại học Oregon); Alexander Barton Woodside (Ðại học Harvard, Ðại học Bristish Columbia); và Olivers Wolters (Ðại học Cornell). Những trang viết của họ mang đến nhiều ý kiến sắc sảo, chẳng hạn:
Viết về thế kỷ XI, K. W. Taylor cho rằng triều Lý tuy vay mượn từ khuôn mẫu Trung Quốc nhưng lại không làm theo Trung Quốc; … kiến thức kinh điển của Trung Quốc bị "địa phương hóa" và các hình thức của Trung Quốc chỉ dùng vào mục đích ngoại giao… (tr. 65).
Bàn về tôn giáo triều Lý, Taylor cho rằng nó mang tính thực nghiệm vì lúc này là thời kỳ Việt Nam tự phát hiện mình. … Người Việt Nam thế kỷ XI thực sự đang cố tự phát hiện xem mình là ai, đang khơi dậy ký ức tập thể Việt. … Tín ngưỡng đa dạng đời Lý cho thấy thái độ thực nghiệm, sẵn sàng tiếp nhận thông tin mới; còn đang tìm hiểu chứ chưa khẳng định giới hạn của nền văn hóa Việt (tr. 75).
Taylor nhận định: khuynh hướng ưu thế lúc bấy giờ là tìm hiểu, không phải tìm cách kiểm soát, thử nghiệm hơn là bảo thủ. Người Việt Nam không tách mình một cách có ý thức khỏi mười thế kỷ bị Trung Quốc đô hộ … Họ không cảm thấy bị Trung Quốc đe dọa về văn hóa (tr. 75). Trung Quốc là một khó khăn về quân sự và chính trị, nhưng về văn hóa thì không (tr. 76).
Cũng lý luận về mối quan hệ văn hóa Việt Nam – Trung Quốc, O. W. Wolters viết: Ở Việt Nam, văn sách Khổng Giáo được các nhà nho tham khảo và trân trọng, song được suy ngẫm và vận dụng một cách thiết thực hơn … Người Việt Nam vốn coi thường toàn bộ những chuẩn mực của sự ứng xử văn minh ở Trung Quốc. …Họ xử dụng văn sách bằng cách trích dẫn từng khúc hoặc từng đoạn riêng rẽ, không còn giữ nghĩa gốc của nguyên bản, nhằm vận dụng những đoạn trích dẫn theo óc suy xét của riêng mình. …. Việc xử dụng một cách hạn chế văn sách của Trung Quốc như vậy là thâm thúy … (tr. 119).
Ðối với Việt Nam, tổ tiên ta hơn ai hết, đã biết và hiểu rất rõ cả mặt tốt lẫn mặt xấu của văn hóa Trung Hoa. Dân tộc Việt Nam trong hoàn cảnh ngặt nghèo kéo dài, đã biết được cách thích nghi tốt nhất để sống còn dưới bóng tối trong một ngàn năm mà vẫn gìn giữ được văn hóa cũng như bản sắc của mình.
Cũng có người cho rằng một ngàn năm Bắc thuộc đã ảnh hưởng tới văn hóa Việt Nam theo hai cách: Thứ nhất, sự ảnh hưởng của Nho Giáo thúc đẩy giới trí thức Việt Nam tiếp thu văn hóa Trung Hoa.
Thứ hai, giới lãnh đạo quốc gia dễ dàng theo các xu hướng chính trị Trung Hoa, quan niệm vương quyền theo lý thuyết Khổng Lão…
Sự thật về văn hóa Việt Nam không qua sự sắp xếp theo hướng của Trung Hoa. Văn hóa Việt Nam được vạch rõ nét và không những phân cách hai nền văn hóa mà còn phân cách khỏi triết lý chính trị. Cũng nên biết rằng sự xuất hiện xu hướng tôn giáo là đạo Phật được truyền thừa vào Việt Nam bởi các tăng sĩ đến trực tiếp từ Ấn Ðộ bằng đường biển. Khoảng đầu kỷ nguyên Tây lịch, tài liệu chắc chắn cho biết rằng vào hạ bán thế kỷ thứ hai. Tại nước ta đã có một trung tâm Phật giáo phồn thịnh. Trong thời đại gọi là Giao Châu ấy đã thành lập một cách vững chắc ở đất nước Việt Nam, và một quan điểm mới về ranh giới chính trị và văn hóa. Ðó là Trung Tâm Phật giáo Luy Lâu. Ở đây có rất nhiều tài liệu để chứng minh. Nhưng cuốn sách này không có nhiệm vụ tìm hiểu sâu hơn về quá trình lịch sử, nên ở đây tác giả không đi sâu mà chỉ có thể nói một cách đại để là trong bối cảnh tín ngưỡng Việt Nam. Thuyết nhân quả nghiệp báo phù hợp với quan niệm ông Trời trừng phạt kẻ ác, ban thưởng người lành. Thuyết Luân Hồi cũng phù hợp với quan niệm linh hồn tồn tại sau khi xác chết tiêu hóa. Người Việt cũng học được của người Ấn những kinh nghiệm về y học, về thiên văn, về lịch sử.. Và kho tàng cổ tích Việt Nam đã thâm nhập nhiều yếu tố từ những truyện cổ tích và luân hồi, nhân quả trong Phật giáo, trong bối cảnh tín ngưỡng và văn hóa ấy. Những khái niệm văn hóa bắt nguồn từ đó. Văn hóa và chính trị Phật Giáo còn đến Việt Nam trước cả Trung Hoa, đặc biệt đậm nét từ thế kỷ thứ IX thứ X đến thế kỷ XIV. Giai đoạn này Phật giáo đã thấm vào trong lòng xã hội Việt Nam. Nói đúng ra người Việt đã thử nghiệm và thể hiện bản chất quốc gia bằng nhiều cách khác nhau, và đã dung hòa "gạn đục khơi trong", chứ không phải sự bắt chước các thể chế của các triều đại Trung Hoa, mà nếu có bắt chước sẽ bị sụp đổ ngay. Chúng ta có thể lật lại trang sử cũ của thời tiền Lê: "Sau khi đã giết anh mình là Lê Trang Tông vào tháng 10-1005 và lên làm vua, tháng 2 mùa Xuân năm (1006) Lê Long Ðĩnh đã đổi lại quan chế và triều phục cho các quan văn võ và tăng đạo theo giống như nhà Tống bên Tầu, lập tức Lê Long Ðĩnh bị truất phế bởi các quan trong triều."
Qua đó cho chúng ta thấy, những kẻ đi ngược lại văn hóa truyền thống, ngược lại nguyện vọng của dân, trái đạo lý họ không có chỗ đứng trong lòng dân tộc, và chúng ta cũng thấy rất rõ thể chế của triều đình Việt Nam khác hẳn Trung Hoa. Người Việt Nam say sưa với bản sắc Ðông Á của mình, mặc dù không phải vì bản sắc ấy có giá trị hơn bản sắc Trung Hoa, mà đúng ra là vì bản sắc ấy, cách suy nghĩ, cách hành động như vậy dễ chịu trong người và củng cố người Việt trong sự nghiệp khốc liệt kéo dài trong suốt quá trình lịch sử 4000 năm. Dân tộc Việt Nam đã bảo tồn được một hình thức văn hóa ít chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa.
Ở nước ta, sau thời Thục An Dương Vương, bị Bắc thuộc trên một ngàn năm, người Hán đem văn hóa của họ sang bắt dân ta phải theo, các phong tục tập quán cổ của nước ta đều phải cải theo phong tục tập quán của người Hán, mạnh nhất là dưới thời các viên thái thú Nhâm Diên, Tích Quang, Sĩ Nhiếp, nhưng với truyền thống tự chủ, tự tin, tự cường của tiền nhân ta, người Hán đã thất bại. Đến thời nhà Minh chúng lại đem quân sang xâm chiếm nước ta vào năm 1414-1427. Bọn Hoàng Phúc bắt dân ta đồng hóa với người Tàu, chúng cấm con trai, con gái không được cắt tóc, đàn bà con gái phải mặc áo ngắn, quần dài kiểu người Tàu, nghĩa là không được mặc váy như trước. Chính vì vậy mà cái áo ngắn được gọi là "áo khách" áo chú khách thâm độc và quỷ quyệt, hơn nữa chúng còn đốt hết sách sử của nước ta.
Khi Lê Lợi đánh bại được quân xâm lược nhà Minh, với ý chí tự chủ, quyết xóa hết tàn tích nô lệ về y phục, nhà Lê vì lo giữ nền nếp văn hiến, nên thể lệ y phục được đặt ra có quy củ. Những người còn mặc quần áo Tàu lạ lùng quái gở, đàn ông phạt 80 trượng, đàn bà phải phạt 50 roi và tịch thu quần áo.
Vua Lê Thần Tông niên hiệu Thịnh Đức năm (1653) định phép ăn mặc cho quan dân. Vua Lê Huyền Tông niên hiệu Cảnh Trí thứ ba (1665) cấm đàn bà con gái không được mặc áo có thắt lưng và mặc quần có ống chân, nghĩa là bắt buộc phải mặc váy. Câu ca dao tả cái váy dưới hình thức một câu đố phản ảnh luật đó:
Vừa bằng cái thúng mà thủng hai đầu
Bên ta thì có bên Tàu thì không.
Nhân Diêm, Tích Quang, Sĩ Nhiếp, Mã Viện đến bọn Hoàng Phúc đã tích cực Hán hóa người Việt, họ đã không thành công và không thể làm thay đổi cách sống của người Việt.
Hàng ngàn năm bị cai trị dân Việt vẫn sống theo nếp cũ, vẫn nói tiếng Việt, giữ truyền thống Việt, ăn mặc theo lối Việt. Ðặc biệt vẫn mặc váy và nhuộm răng đen cho đến tiền bán thế kỷ 20.
Thói quen ăn trầu, cho tới nay vẫn chưa hết. Kể cả người Việt hiện đang sinh sống ở hải ngoại. Nói tóm lại cuối cùng là văn hóa và phong tục tập quán Hán đã không chinh phục được dân tộc Việt Nam. Ngay cả những người viết sử Trung Hoa, sử Nhật cũng phải ghi nhận "nước Việt Nam với bốn ngàn năm lịch sử không bị lôi cuốn, đồng hóa bởi Trung Hoa sau gần 11 thế kỷ, bị đô hộ với Pháp ngót 100 năm mà vẫn giữ được đặc tính dân tộc có phong tục, có ngôn ngữ, văn hóa riêng" Sách Doanh Hoàn Toàn Chi của Trung Hoa và sách Vạn Quốc Sử Ký của Nhật đã chép về Việt Nam, đều công nhận là "Văn Hiến Chi Bang". Nước Trung Hoa có hàng trăm dân tộc từ trước công nguyên, đã có những vương quốc như: Hán, Nguỵ, Sở, Yên, Triệu từ năm 221 đến 230. Trước công nguyên, Tần Thủy Hoàng lần lượt tiêu diệt và đồng hóa dân các nước đó theo văn hóa phong tục Hán để củng cố nền thống trị tập quyền, Tần Thủy Hoàng đã có nhiều biện pháp mạnh mẽ và quan trọng về mặt chính trị kinh tế, văn hóa, phong tục tập quán, thống nhất luật pháp, thống nhất tiền tệ, thống nhất văn tự và thống nhất đo lường.
Lịch sử nước Tàu năm ngàn năm, xã hội Trung Hoa đã trải qua biết bao nhiêu triều đại thay thế nhau. Sự hưng thịnh, suy vong, sự phân hợp của các dân tộc, sự tiêu diệt và đồng hóa đều do các loại thế lực chính trị, đấu tranh giành quyền lực, đan chéo chằng chịt, biểu hiện nhiều vẻ sâu sắc lạ kỳ, phức tạp và kịch liệt không sao kể xiết trên hai bình diện quân sự, văn hóa giữa các dân tộc. Hiện tại quốc gia Tây Tạng, nơi đang bị đồng hóa dần dần vì dân gốc Hán được đưa vào Tây Tạng gấp hai lần dân bản xứ. Trong lịch sử quá khứ, văn hóa phong tục Hán đã đồng hóa và tiêu diệt các nền văn hóa của nhiều dân tộc, trừ Việt Nam, mặc dù nhiều thời kỳ họ đã bị thảm bại trên mặt trận quân sự, bị ngoại bang đô hộ họ nhiều thế kỷ như thời kỳ cuối đời Đường, đầu đời Tống, nước Liêu là một quốc gia rất cường thịnh do dân tộc Khiết Đan dựng nên. Khiết Đan vốn là một dân tộc du mục họ chuyên tìm nơi có nguồn nước và cỏ để sinh sống. Vua sáng nghiệp nước Liêu là Thái Tổ, Luật A Bảo Cơ. Vào đầu thế kỷ thứ IX sau công nguyên, A Bảo Cơ đánh Đông dẹp Bắc, lần lượt chinh phục các bộ lạc Hề, Thất Vi, Đột Quyết, Thổ Cốc Hồn, Đảng Hạng, Tiểu Phiên v.v…Sau khi A Bảo Cơ mất, con trai là Da Luật Đức Quang lên ngôi năm 920, đến vua Liêu Long từ năm1009, phía đông đã đánh chiếm Cao Ly ( Triều Tiên) ngày nay, buộc Cao Ly phải triều cống. Phía tây đánh Tát Ta buộc vua Tây Châu Hồi phải thần phục. Năm Thống Hoà thứ tư đánh chiếm một vùng phía nam rộng mênh mông của nước Tống, bắt triều đình nhà Tống hằng năm phải triều cống, đến đời vua Thánh Tông quốc gia Liêu toàn thịnh. Vì thế Thánh Tông được tôn là Thịnh Chủ. Nhà Liêu trong chinh chiến họ đã xây dựng được bốn kinh đô: Lâm Hoàng là Thượng Kinh, Liên Dương là Đông Kinh, Đại Định là Trung Kinh, U Châu là Nam Kinh. Về văn hóa Liêu có tiếng nói, chữ viết riêng không lệ thuộc vào văn tự chữ Hán. Phong tục tập quán riêng, Liêu Thái Tổ đã sáng tạo ra chữ Liêu. Thế mà thời nhà Minh nước Liêu bị xóa khỏi bản đồ Trung Hoa.
Năm 1004, Bắc Tống giảng hòa với Kiết Ðan. Năm 979, ngay sau khi diệt được thế lực cắt cư cuối cùng là Bắc Hán. Bắc Tống liền tấn công nước Liêu, nhưng bị thất bại. Năm 938 nước Liêu lại đổi tên nước thành Kiết Ðan. Năm 986. Bắc Tống lại tấn công Kiết Ðan (Nước Liêu) lại thất bại.
Năm 1004 Kiết Ðan đồng ý giảng hòa, hai bên đã ký hòa ước quy định. Hàng năm Tống phải "tặng" Kiết Ðan 20 vạn tấn lụa và 10 vạn lạng bạc. Ðến năm 1042 số lụa tăng thêm thành 30 vạn tấn. Số bạc tăng lên thành 20 vạn lạng. Và chữ "tặng" phải đổi thành chữ "nộp" cho nước Liêu. (để làm nhục)
Nước Kim cũng là một thí dụ điển hình về sự hủy diệt của người Hán. Lịch sử nước Kim do Kim Tổ Hoàn Nhan A Cốt Đả sáng nghiệp, lập nên triều Kim trị vì từ năm 1115-1123. Triều Kim định đô tại Bắc Kinh, trải qua chín đời vua, cả thảy 120 năm.
Năm 1214 quân Mông Cổ vây Trung Ðô của Kim. Kim dời đô xuống Biện Kinh. Trước đó, năm 1153, Kim bắt đầu đóng đô ở Yên Kinh (Bắc Kinh), gọi là Trung Ðô. Năm 1211 Thành Cát Tư Hãn bắt đầu tấn công nước Kim. Năm 1214, quân Mông Cổ vây Trung Ðô. Kim phải dâng lễ cầu hòa và dời đô xuống Biện Kinh. Năm 1234. Quân Mông Cổ với sự tham gia của quân Nam Tống ào ạt tấn công, nước Kim diệt vong. Nhưng đến năm 1616 Nuochari (Nô Nhĩ Cáp Xích) một thủ lãnh của bộ lạc Nữ Châu, xưng là vua đặt tên là Kim, lịch sử Trung Hoa gọi là Hậu Kim. Từ đó Kim luôn luôn tấn công và chiếm đất của Triều Minh.
Năm 1636, Kim thay đổi quốc hiệu thành Thanh. Năm 1626, trong một trận giao chiến với quân Minh, Nuochari bị thương rồi chết. Con ông là Hoàng Thái Cực lên ngôi. Năm 1627, Hoàng Thái Cực đổi tên bộ tộc Nữ Châu thành Mãn Châu. Năm 1636, lại đổi tên nước Kim thành nước Thanh.
Triều đại nhà Thanh (1769-1912)
Từ Càn Long (1735-1769), đến Phổ Nghi (1908-1912), Hoàng Ðế cuối cùng của Trung Hoa. Giữa thế kỷ 19, sự hiện diện của các cường quốc phương Tây. Sau đó là người Nhật, gây ra nhiều vấn đề lớn đối với nhà Thanh, bỏ qua giai đoạn đó...
"Lịch Sử Trung Quốc Hiên Ðại" là chiến tranh thuốc phiện 1839-1842, Anh đánh bại Trung Quốc và các yêu sách tiếp theo đối với triều đình nhà Thanh...
Ngày 10-10-1911, bùng nổ cách mạng, ngày 30-12 Tôn Trung Sơn từ Mỹ Quốc trở về được đại biểu 16 tỉnh họp bầu làm Tổng Thống Lâm Thời nước Cộng Hòa Trung Hoa. Trải qua nhiều binh biến ... Trung Quốc bị xâu xé... đến "Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa" của Mao Trạch Ðông và Ðảng Cộng sản Trung Quốc năm 1949, tính cho đến nay năm 2009 văn hóa Thanh gần như bị xóa sổ.
Khái quát lịch sử như thế để biết rằng: Triều đại nhà Thanh dân tộc Mãn vừa mới gần kề đây thôi! Sáu bẩy thập niên là một thời gian quá ngắn, mà văn hóa dân tộc Mãn đã biến mất!
Theo ông Dương Danh Duy một dịch giả Hán Việt, nguyên là Bí thư Sứ quán Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở Bắc Kinh hơn hai thập niên vừa mới nghỉ hưu có viết về sự đồng hóa của người Hán đối với dân tộc Mãn Thanh , tác giả viết:
TU Liệu
Toàn Trung Quốc chỉ còn chưa đầy 100 người hiểu tiếng Mãn
Bài này được đăng lúc 08:50 ngày Chủ Nhật, 19/07/2009
http://bauxitevietnam.info/c/3802.html
SGTT – Sau khi vương triều Mãn Thanh sụp đổ, trải qua mấy chục năm bị Hán hoá nhanh chóng, đến nay trong địa phận Trung Quốc chỉ còn chưa đến 100 người hiểu được tiếng Mãn. Số liệu này do Lý Vũ Minh, vụ trưởng vụ Quản lý tư liệu thông tin văn tự ngữ ngôn bộ Giáo dục Trung Quốc tuyên bố năm 2007. Số người còn viết được chữ Mãn chưa đến 20 người. Số lượng người Mãn nói được tiếng Mãn và viết được chữ Mãn trong số gần 10 triệu người của dân tộc Mãn còn lại tại Trung Quốc hiện nay còn ít hơn số người Nhật, người Nga, người Italia… nói và viết được tiếng Mãn. Khó có thể tưởng tượng được rằng đế quốc Mãn Thanh 200 năm trước đây lại rơi vào tình cảnh như vậy.
Tỉnh Hắc Long Giang là một trong những nơi cư trú chủ yếu của tộc Mãn, nhưng hiện nay chỉ còn thôn Tam Gia Tử, huyện Phú Dục thành phố Tề Tề Cáp Nhĩ là thôn duy nhất trên toàn Trung Quốc vẫn còn dùng tiếng Mãn để trao đổi. Tuy vậy cũng chỉ còn ba vị thôn dân già là nói lưu loát tiếng Mãn, và hơn 10 người có thể nghe hiểu và nói được phần lớn tiếng Mãn.
Hơn hai năm trước đây, có một người lãnh đạo huyện Phú Dục cho mở lớp học tiếng Mãn và chi trả lương cho giáo viên, nhưng sau khi vị cán bộ này đi nơi khác, và nhất là bà con dân tộc Mãn cảm thấy học, nói tiếng Mãn cũng chẳng có chỗ dùng, nên phong trào tàn lụi.
Người viết được biết, nhà văn Trung Quốc nổi tiếng đã mất Lão Xá vốn là người Mãn, nhưng ông chỉ viết bằng chữ Hán, và gần đây nhà văn hiện đại Vương Sóc cũng là người Mãn, và ông này cũng chỉ viết bằng tiếng Hán với trình độ rất cao, rất khó.
Dương Danh Dy
Nguồn:
http://www.sgtt.vn/detail30.aspx?ColumnId=30&newsid=54332&fld=HTMG/2009/0716/54332
Trong quá trình nghiên cứu sự phát triển ảnh hưởng và bành trướng lãnh thổ, cũng như việc đồng hóa các dân tộc khác của người Hán mấy ngàn năm qua. Tôi nhận thấy Việt Nam là một dân tộc họ không thể đồng hóa được. Trung Quốc đã từng cai trị nước ta hơn một ngàn năm. Người Pháp cai trị nước ta một trăm năm.
Nhưng nếu được hỏi, xã hội Việt Nam hiện thời là xã hội như thế nào? Chắc chắn có nhiều người sẽ trả lời: "phá hoại", vô trách nhiệm, hèn nhát, ích kỷ và giả dối...
Một xã hội chưa từng thấy ở đâu có như thế bao giờ. Vì không thể tìm thấy trong lịch sử, ví như chế độ phong kiến, hoặc chiếm hữu nô lệ hoặc xã hội Trung Cổ kiểu Châu Âu.
Mấy thập niên qua xuất hiện lối sống dấu mặt, kinh tế đen, xã hội đen... Trong xã hội ấy ai cũng bị điều khiển bởi quyền lợi cá nhân, ích kỷ. Trong một nhà nước không được tổ chức bằng luật pháp. Vai trò của bạo lực hiện hành, chuyên quyền độc đoán. Ðạo đức, tự do mất tăm tích! Cái gọi là nhà nước xã hội chủ nghĩa xóa bỏ quá khứ. Hình tượng về sự hào hùng của ông cha bị đảng cộng sản "xô xuống" một vực đen. Con người ở dưới đó không cách gì trèo lên được. Họ sống lăng xăng với sự mất trí nhớ đại chúng. Các đảng viên cộng sản là một đặc trưng, tuy cùng chung một quốc tịch Việt. Nhưng thực chất bên trong họ đã mất hoàn toàn mối liên hệ tinh thần quốc gia truyền thống nhất là giới lãnh đạo rất lạ lẫm với ông cha.
Khi giường mối quốc gia, kỷ cương và những ưu thế của dân tộc ngày càng bị thu vào vị trí nhỏ bé thì văn hóa Hán được khuyến khích trong xã hội nhà cầm quyền cấu kết với ngoại bang trên mọi phương diện.
Trong bối cảnh hiện thời người Việt Nam có giữ được nước không? Có bị Hán hóa không?
Ðể hiểu thêm thực chất nhà nước XHCN. Nguyên nhân tối tăm, "hố đen" của lịch sử. Hình tượng này có ý nghĩa quan trọng và hoàn toàn có thể giải thích được.
Tuy nhiên, đằng sau những chuyện vừa nói vẫn có cái gì có vẻ huyền bí. Vì sao một nước Việt Nam mãi đến bây giờ, hình tượng về một chủ nghĩa Mác vẫn còn được tôn thờ, và giữa nó lại có sự liên hệ hữu cơ với chủ nghĩa Ðại Hán thời thượng cổ và nay đang hợp lại với nhau tạo thành một khuynh hướng bành trướng vội vã.
Diễn đạt theo lối một sĩ phu Bắc Hà thì chủ nghĩa Mác là bà đỡ cho chủ nghĩa Ðại Hán mới. Xin trích dẫn một số đoạn trong bài:
"Từ vụ Bauxite nghĩ về vận nước".
Thực tế cho thấy: Muốn bàn luận về vụ bauxite không thể không đề cập rốt ráo đến quan hệ Việt-Trung. Rồi tiếp tục, không thể nào bàn luận quan hệ Việt Trung mà không cày xới những vấn đề gốc rễ nằm trong chủ nghĩa Mác-Lê là chủ nghĩa đã chi phối và quyết định động thái, số phận của hai nước Cộng sản này. Không thể đạt kết quả gì hữu ích nếu chỉ bàn chuyện khơi khơi trên ngọn.
*
Trước đây, một số đảng viên Cộng sản chân thật, khi đọc bài "Chia tay Ý thức hệ" (1995), đến câu "Đã theo chủ nghĩa Mác-Lê thì sự phản bội chỉ còn là vấn đề thời gian, chính Mác nếu còn sống cũng không thể trung thành với một lý thuyết như thế " thì không chịu. Nhưng gần đây, do vụ bauxite, gặp lại tôi, nhiều bác đã bảo: Chú nói đúng, nhưng chẳng lẽ một đảng cứu nước lại chuyển hoá thành một đảng bán nước ư, kỳ lạ thật?
Sao lại có chuyện phản bội tưởng như ngược đời ấy? Cố ý hay vô tình?
Nguyên nhân dễ thấy chính là do ảo tưởng về một thế giới "vô sản toàn thế giới liên hiệp lại", lấy lý tưởng giai cấp để xóa nhòa ranh giới quốc gia thì chỉ làm mồi cho những nước cộng sản lớn, đặc biệt là khi nước lớn ấy đã lấy chủ nghĩa bành trướng Đại Hán làm động cơ truyền kiếp và đã có thừa trí khôn để biết ảo tưởng Mác-xít chính là công cụ tuyệt vời để chiếm đoạt thiên hạ.
Nói cách khác, học thuyết Chuyên chính Vô sản là bà đỡ cho cả nạn NỘI XÂM lẫn NGOẠI XÂM, hai kẻ sinh đôi này tất nhiên câu kết với nhau để cùng tước đoạt quyền làm chủ của dân đối với đất nước. Vong hồn Mác chắc chắn vẫn còn nợ giới cần lao một lời tạ lỗi vì sai lầm lý thuyết ấy.
Hậu quả là ngày nay bất cứ người cộng sản nào cũng phải chọn một trong hai sự "PHẢN BỘI"không thể thoái thác: hoặc là phản lại (hoặc từ bỏ) học thuyết sai lầm để trung thành với nước với dân (cũng là trung thành với tấm lòng và mục tiêu chân chính của Mác), hoặc là cứ "trung thành" với học thuyết sai lầm thì lại phản dân tộc, phản tiến hoá. Người cộng sản tử tế chọn cách "phản" thứ nhất! Còn phần lớn người cộng sản có quyền bính trong tay thì chọn cách "phản" thứ hai, và gọi sự "phản" của họ là đức tuyệt đối trung thành. Thái độ im lặng thực chất là gián tiếp đồng loã với cách phản bội thứ hai.
4. Đặc điểm một cuộc xâm lăng kiểu mới đối với nước ta
Nếu chủ nghĩa bành trướng Đại Hán muốn tái hiện một cuộc Bắc thuộc đối với Việt Nam thì sẽ gặp thuận lợi gì và khó khăn gì?
Thời Pháp thuộc Việt Nam chỉ mất nước chứ không có khả năng đồng hóa Dân tộc ta. Trong lịch sử, Trung Hoa đã nhiều lần muốn đồng hoá Dân tộc Việt Nam, vì họ thừa biết một Dân tộc bị đồng hoá thì bị mất nước vĩnh viễn. Mặc dù có ưu thế của ảnh hưởng Khổng giáo, của nhiều tập tính Đông phương và có biên giới gần gũi để di dân nhưng những thứ đó vào Việt Nam đã bị Việt Nam đồng hoá theo cách riêng của một Dân tộc có phong cách riêng và biết tự tôn nên mưu đồ đồng hoá thất bại.
Ngày nay, những nhân tố ấy vẫn còn, lại được thêm sự hỗ trợ cực kỳ hiệu quả của giáo lý Mác-Lê, của lá bùa xây dựng thiên đường XHCN và khuôn khổ tổ chức Xã hội chủ nghĩa. Lê Chiêu Thống ngày xưa không mảy may điều hành được xã hội, còn Lê Chiêu Thống ngày nay thì khả năng ấy có thừa.
Trong lịch sử 4.000 năm đã có bao giờ bị thất thủ mất đất mất biển đơn giản như thế, đã có bao giờ bị ngoại bang cưỡi lên giữa lưng, tóm lấy yết hầu, chi phối nhân sự dễ dàng như thế? Đã có bao giờ người cầm đầu xã hội bạc nhược đến mức không dám gọi đến tên kẻ đã đánh giết dân mình chứ chưa nói đến có gan chống lại?
Xã hội dân sự rất èo uột vì bị quản lý đến tận hang cùng ngõ hẻm, chỉ biết tuân theo. Đã thế lại bị ảnh hưởng tiêu cực của lối sống thực dụng, màu mè lai căng (thờ phụng một cầu thủ bóng đá, một Michael Jackson, nhưng không coi Tổ quốc ra giá trị gì), của tâm lý cầu an chán nản sau chiến tranh quá dài, của thói dối trá và cách sống luồn lọt- xin cho, của lối sống vừa vô cảm vừa tàn bạo, của sự thiếu hụt và tan vỡ lý tưởng nên mất niềm tin, của sự bất lực trong giáo dục…khiến cho đạo đức suy đồi, lòng người ly tán. Một quốc gia như vậy là một quốc gia yếu, làm mồi ngon cho xâm lăng.
Khả năng bị đồng hóa toàn diện nặng nề hơn bao giờ hết. Đã có sự nhập cư ồ ạt không thể kiểm soát của những người Tàu không rõ lý lịch. Thông tin cho biết nhiều kẻ nhập cư lậu thuộc loại chất lượng xấu nhưng vừa chiếm chỗ lao động, vừa lấy được 2-3 người vợ Việt Nam để sinh đẻ cho nhiều! Chẳng những sẽ bị Hán hóa mà còn lưu manh hóa và mông muội hóa để thành những tộc dân mọi rợ. Dân tộc bị thoái hóa thì sẽ mất nước vĩnh viễn, trở thành quận huyện của người ta, uổng công tổ tiên nghìn đời xây đắp.
Nhưng không phải kẻ xâm lược chỉ gặp thuận lợi. Khó khăn là lịch sử đã dạy cho dân Việt Nam hiểu người láng giềng khổng lồ quá rõ. Dùng mưu mô khó bịp được nhau. Còn dùng vũ lực ư, thì Chi Lăng, Bạch Đằng, Đống Đa …còn đó chứ đã mất đi đâu?
5. Giải phóng dân mới cứu được nước
Chân lý muôn đời là chỉ có Dân mới cứu được nước. Nhưng thế của Dân hiện nay như thế của một đội bóng trong một cái sân nghiêng rất khó chịu như đã mô tả ở trên: đội "Nhân dân" ở cuối dốc, cầu môn lại rỗng tuễnh, trọng tài là người của bên kia lúc nào cũng sẵn sàng thổi phạt. Mà đội "lãnh đạo" trên đỉnh dốc nay lại thuê rất nhiều "cầu thủ ngoại" cao to và hung dữ, chỉ rình "nuốt sống" đối phương! Đội "nhân dân" chỉ còn cách thúc thủ?
Muốn nhân dân phục hồi sinh lực tất nhiên phải nâng cao DÂN TRÍ và xây dựng một XÃ HỘI DÂN SỰ cường tráng. Nhưng sẽ không thể làm được một việc gì hết nếu không đồng thời cải biến chính cái "sân chơi" kia (mà Mác đã thiết kế): phải giảm dần độ nghiêng đến mức nằm ngang, phải lập lại tổ trọng tài, phải trừng trị kẻ chơi xấu và không được cấm cản cầu thủ đội "nhân dân" một cách vô lý, vân vân.
Nhân dân khác nào vị tướng tài bách chiến bách thắng nhưng còn đang bị giam lỏng, phải trả tự do ngay cho vị tướng này.
Tóm lại là : Khi tiến hành nâng cao DÂN TRÍ và xây dựng Xã HỘI DÂN SỰ phải đồng thời xử lý những giáo lý và thiết chế Mác-xít mới mong giải phóng được sinh lực của Dân tộc, làm nhân tố quyết định để giữ nước. Lịch sử đã tạo ra vấn nạn gì thì lại tạo tiền đề để giải quyết vấn nạn ấy. Một ảo tưởng, trái quy luật đã theo lòng yêu nước xâm nhập vào trong một cuộc chống ngoại xâm, thì khi điều kiện lịch sử ấy qua đi, sẽ được chính lòng yêu nước tiễn đưa ra, cũng bằng một dịp chống xâm lược! Một nguy cơ biết đâu lại chẳng là một cơ hội?
Xây dựng xã hội dân sự là sự nghiệp của toàn dân, những người tiên phong có thể là giới trí thức tiên tiến và giới trẻ tiến bộ, nhưng rất cần những điểm tựa tinh thần đang hiện diện. Các vị tướng Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Trọng Vĩnh, Đồng Sĩ Nguyên, Lê Văn Cương…, vốn là những nhân vật bảo vệ nền Độc Lập, nhưng trước mối an nguy của vận nước trong vụ bauxite đã cất tiếng phản biện đanh thép, không khoan nhượng, tự nhiên đã thành biểu tượng của Dân Chủ. Cuộc đấu tranh vì sự sinh tồn của dân tộc đã gắn hai yếu tố Độc Lập và Dân Chủ lại với nhau. Những vị tướng QUÂN SỰ nếu có thể trở thành những vị tướng DÂN SỰ trong một xã hội dân sự thì thật đáng mừng.
Trong xã hội dân sự thì hai giới NHÀ BÁO dân chủ và LUẬT SƯ dân chủ là hai trụ cột cực kỳ quan trọng, nên người muốn phá xã hội dân sự bao giờ cũng kiềm chế hai giới này.
Quy chế về cái gọi là "Lề phải" chính là một ngụy biện nhằm mục đích kiềm chế ấy.
Trong bối cảnh như thế, trang web bauxitevietnam.info do GS Huệ Chi, nhà văn Phạm Toàn và TS Nguyễn Thế Hùng khởi xướng, là một thành quả của báo chí tự do, báo chí dân chủ, đầy trí tuệ, rất thông minh và thật đáng khích lệ!
Đà Lạt ngày 26-7-2009
Hà Sĩ Phu
Trở lại lịch sử cổ đại Trung Hoa.
1576 Triều Minh diệt vong, Triều Thanh bắt đầu thống trị Trung Hoa, quan lại thì đa số lại là người gốc Hán. Vì là thiểu số, họ bị văn hóa Hán gậm nhấm đến tận cốt tủy – thành ra thắng trận mà vẫn bị Hán hóa.
Nên biết rằng về quân sự, Kim là một quốc gia rất hùng mạnh vào thời vua Kim Thái Tông. Năm 1126 đánh chiếm hết cả nước Tống, bắt được vua Tống là Huy Tôn và cả triều đình nhà Tống. Chúng ta thử xem một đoạn trong sách (đời sống các đế vương Trung Hoa) của hai nhà sử học Hương Tư và Vương Kinh Luân mô tả cảnh thảm bại nhục nhã của triều đình nhà Tống như thế nào. Trên đường áp giải vua quan nhà Tống tới doanh trại quân Kim: "Cát bay mù mịt, bụi đất che lấp mặt trời, Hoàng Đế, Hậu Phi, Hoàng Tử, Hoàng Tôn, các thân vương, công chúa cùng cung nữ nước Tống, tất cả hơn ba nghìn người, lôi thôi lếch thếch thành một đội ngũ tù binh lớn rời khỏi cung cấm, bước trên con đường hành trình lưu vong lên vùng sa mạc phương bắc, quần áo họ buộc lại với nhau, hấng chịu gió bụi, gian nan hết ngày này qua ngày khác, bị quân Kim áp giải vô cùng khổ ải, hướng về phía Bắc đi sâu vào vùng hoang mạc. Phụ trách việc áp giải bốn người: Huy Tông, Khâm Tông, Trịnh Hoàng Hậu (Cậu Huy Tông) và Chu Hoàng Hậu (của Khâm Tông) là tên tướng Kim Trạch Lợi, trên đường đi Trạch Lợi vênh vang tự đắc, dùng mọi cách để nhục mạ đám Hoàng Đế, Hoàng Hậu vong quốc của Trung Hoa, giày xéo và chà đạp lên nhân cách và lòng tự trọng của họ. Khi tới Huyện Tân An Trạch Lợi cùng viên luyện lệnh mở yến tiệc, mâm cao cỗ đầy, cuộc đùa vui thú, ăn uống no say với tư cách kẻ chiến thắng. Trạch Lợi uống rượu đến khi mặt đỏ tía tai, hứng thú đang lúc điên cuồng, liền lệnh cho Chu Hoàng Hậu ca hát trước bàn tiệc để mua vui, Chu Hoàng Hậu làm sao mà chịu đựng nổi sự nhục mạ này. Nhưng nếu trái lệnh thì vua Khâm Tông và Huy Tông sẽ bị mắc vạ lây, Chu Hoàng Hậu nuốt lệ, kìm nén nỗi đau, cố hết sức tàn hơi đau thương cất tiếng ca:
Thuở nhỏ giàu sang, chừ, trướng huệ màn lan!
Lớn lên vào cung, chừ, nâng chén ngọc vàng.
Nay thất thế, chừ, lưu lạc tha phương!
Ôi! Tạo hóa hỡi, chừ, chết sớm là hơn…!!!
Cảnh lạc lõng và bi kịch nhục nhã của hoàng đế và hoàng hậu nước Tàu vĩ đại "lại giống" hoàng đế cuối cùng của nước Nam Đường, thời kỳ Thập quốc. Tống Thái Tổ dòm ngó Giang Nam, muốn tiêu diệt nhà Nam Đường.
Sau năm 976 quân nhà Tống tiến đánh Nam Đường, Hoàng Đế Lý Dục, từng thề: "Ngày thành thất thủ sẽ dắt vợ con lao vào lửa tự thiêu" (tuẩn tiết vì nước)! Nhưng khi sự việc xảy ra Lý Dục lại không có gan tự sát. Lúc quân Tống xông vào cung, ông và quốc thích hơn bốn mươi người quỳ gối xin hàng.
Từ đó Lý Dục bắt đầu cuộc sống tù nhân nhục nhã ê chề, thỉnh thoảng lại bị chế giễu và hạ nhục. Trong khi Lý Dục vô cùng đau khổ, trong bức thư gửi cho những cung nữ cũ của Kim Lăng, vua viết: "cuộc sống ở đây suốt ngày có thể rửa mặt bằng nước mắt". Khi Tống Thái Tổ mở tiệc tùng, tùy hứng gọi Lý Dục làm thơ ngâm vịnh trước mặt mọi người. Các vua nước Tàu có truyền thống chịu nhục không ai bằng. Ở nước ta bà Trưng Trắc, Trưng Nhị vì nghĩa lớn dấy binh khởi nghĩa, làm cho nhà Hán phải run sợ. Khi thế cùng, lực kiệt. Hai bà gieo mình xuống sông Hát Giang (chỗ sông Đáy và tiếp sông Hồng Hà) mà tự tận. Thời hậu Trần, vua Trùng Quang Đế mưu khôi phục đất nước, làm hết bổn phận mình, trong lúc thế cùng, khi bị giặc Minh bắt cho xuống thuyền giải về Tàu, vua nhảy xuống nước, giữ nghĩa không chịu nhục, cam lòng nhảy xuống biển tuẫn tiết để cùng mất với nước thực đúng là "Quốc Quân chết vì xã tắc" mà các bề tôi của ngài như Cảnh Di chửi giặc mong cho chúng giết mình. Nguyễn Biểu kể tội ác của giặc rồi chết.
Trên đã nói các vua chúa nước Tầu có truyền thống chịu nhục, lại phải kể về trước, thời kỳ Tấn Hoài Đế Tư Mã Xí thống trị, Hán chúa Luyên Lưu Thông đã từng ba lần đem đại binh tấn công thành Lạc Dương của nhà Tây Tấn, cuối cùng vây hãm được Lạc Dương, bắt sống được Tấn Hoài Đế, cho lính áp giải về Bình Dương.
Một hôm, Hán chủ Lưu Thông mở đại hội quần thần, bày tiệc lớn. Lưu Thông muốn thưởng thức ý vị thành công của kẻ thắng, liền lệnh cho Tấn Hoài Đế Tư Mã Xí, mặc áo xanh của kẻ nô bộc, đứng cạnh mâm tiệc, hầu rót rượu…
Hán Chúa Lưu Thông không trừ một hành động nào để hạ nhục vua Tấn đến cùng cực, thậm chí khi đi đại tiện cũng bắt cựu hoàng nhà Tấn phải đậy thùng xí. Các cô thần nhà Tấn tận mắt trông thấy cảnh chủ cũ bị hạ nhục tàn tệ đến thế mà im thin thít!
Nói về cái đức chịu nhẫn nhục của vua Chúa Trung Hoa không giống ai, mà còn có phần nhờm tởm nữa. Chuyện đại vương Câu Tiễn nếm phân kẻ thù là một nét đặc thù của văn hóa Trung Hoa. Câu Tiễn sinh trước CN 465 là cháu hơn hai mươi đời của Hạ Vũ. Năm 494, Câu Tiễn không nghe lời khuyên của quan đại phu Phạm Lãi. Cất quân đi đánh nước Ngô. Kết quả lại bị thua to, rồi bị bắt phải làm nô bộc nuôi ngựa cho Ngô Vương Phù Sai suốt 3 năm dài.
Một lần, Phù Sai mắc bệnh, Phạm Lãi đã biết bệnh tình cũng chẳng có gì đáng ngại chỉ mấy hôm sẽ khỏi. Liền kể lại tình hình cho Câu Tiễn nghe. Câu Tiễn liền nhờ Thái Tệ Bỉ chuyển lời, nói rằng Câu Tiễn có tài nếm phân người mà biết được bệnh tình lành dữ. Xin tình nguyện xem bệnh cho đại vương. Bỉ dẫn Câu Tiễn bước vào phòng ngủ của Phù Sai, vừa lúc Phù Sai muốn đại tiện. Phù Sai ra lệnh cho Câu Tiễn lui ra ngoài.
Câu Tiễn nói: "Cha có bệnh. Cái lý làm con phải hầu hạ, phải chạy thuốc men. Đại Vương bị ốm. Kẻ hạ thần phải được phục dịch". Lại nói "thần có thể nếm phân của đại vương, mà biết được bệnh tình nặng nhẹ của Người". Câu Tiễn nói vậy đã làm cho Phù Sai rất vui vẻ. Khi Phù Sai đại tiện xong, Câu Tiễn đã nếm thử phân, chúc mừng:
"Bãi phân của đại vương có vị chua, lại hơi đắng, đó là bệnh (thời khí). Đại Vương bất tất phải lo lắng. Chỉ vài ngày nữa bệnh tình sẽ khỏi".
Nhẫn nhục (nếm phân kẻ thù) không ai làm nổi, chỉ có hoàng đế nước Trung Hoa vĩ đại, điều không thể tìm ra ở nơi khác trên thế giới.
Bạn có thể cho là tôi bôi nhọ, hạ thấp giá trị văn hóa Trung Hoa vì họ còn bao nhiêu cây đại thụ tỏa bóng mát cho thiên hạ muôn đời.
Thưa rằng, những điều nói trên ấy. Nói vậy không có ý hạ giá những thiên tài như đức Khổng Tử, Lão Tử…Bởi thế, dẫu chống bọn bành trướng phương Bắc, mà ông cha ta không bao giờ ruồng bỏ Nho là vì kính trọng sự đóng góp của các ngài. Nhưng văn hóa vốn có nhiều mặt. Một thứ y khoa (nếm phân chẩn bệnh) cũng là siêu đẳng đáng nói lắm chứ! Nhưng nó bị nằm bẹp nhiều ngàn năm. Không có người Tầu nào nói đến phần phát minh đóng góp của tiền nhân họ, một dân tộc giữ vai trò "sáng tạo văn minh" mà người Tầu vẫn tự hào là nó nằm ở địa vị cao chưa đâu bằng. Ðứng đầu thế giới, tuy rực rỡ như vậy nhưng lại không biết tới khái niệm tự trọng của một nước lớn cứ bị ngoại tộc làm nhục, bị xâm chiếm, dù ngoại tộc ấy về số lượng không bằng một phần trăm so với Hán tộc. Nhưng họ lại có thói quen cho mình là nhất thế giới.
Tổng Thống Tôn Trung Sơn, trước lăng mộ Thủy Tổ các dân tộc Trung Hoa đã đọc văn tế:
"Trung Hoa khai quốc năm ngàn năm cũ
Tổ tông truyền nói từ Hiền Viên đất Thần Châu
Làm xe, chỉ nam, bình giặc dữ
Văn minh thế giới, có ta đi đầu."
Nghĩa là mũi nhọn của văn minh thế giới.
(Nếm phân) cái tác quyền phải thuộc về dân Trung Hoa, mà nhẽ ra nó phải được đưa vào kinh điển và phải được đưa ra thực hành trong thời đại xã hội chủ nghĩa.
Trung quốc không cần xây dựng các phòng thí nghiệm, mua sắm các dụng cụ…để số tiền đó sắm tên lửa phóng dân Tầu lên cung trăng chơi. Nhưng cũng xin lưu ý, "cấm khạc nhổ bậy" trên đó!
Thôi hãy tạm để những ý kiến trên qua một bên. Bây giờ ta thử trở lại một giai đoạn dài của lịch sử nước Tàu nói chung và nói riêng từng quốc gia, kể từ khi nhà Bắc Tống thay đế nhà Đường năm 960 đến 1227, Nam Tống 1127 đến 1279, nước Liêu từ năm 907 đến 1125, nước Kim từ năm 1115 đến 1234.
Ðối với nước ta trong toàn bộ lịch sử của mình, Việt Nam chưa bao giờ chiếm lấy, dù chỉ là một tấc đất, một thước sông của Trung Hoa. Không bao giờ làm nhục đến các Hoàng Ðế Trung Hoa, mặc dầu có những thời gian nước Trung Hoa rất hèn yếu, bị chia năm xẻ bẩy và bị các thuộc quốc trước đây của mình làm nhục như Kim Liêu, Tây Tạng… Việt Nam có những thời kỳ rất hùng cường có thể bắt các hoàng đế Trung Hoa như thời nhà Lý, cả đến Nguyễn Huệ sau này, muốn chiếm bao nhiêu đất chẳng được. Nhưng các vua Việt Nam không bao giờ hành động như vậy, chỉ khi các vua Trung Hoa đem quân đến chiếm thì đánh trả quyết liệt để giữ lấy độc lập dân tộc, nhưng sau đó là thôi. Thái độ này khác hẳn với thái độ của những tộc trưởng láng giềng bao quanh Trung Nguyên, bao nhiêu phen nước Tầu thua Đại Việt, bấy nhiêu lần thả tù binh, cấp lương thực, phương tiện cho về nước. Thái độ khoan dung và sáng suốt, văn minh văn hóa. Thứ văn hóa "thương yêu cả kẻ thù" và nhạy cảm tinh tế, sâu sắc, biết rung động trước những nỗi khổ của kẻ khác. Ðó là những tù binh của nhà Nguyên thua trận bị quân Ðại Việt bắt, triều đình nhà Trần thương cảm số phận của họ. Ðiều này được biểu hiện ngay cả trong văn thơ của vị trạng nguyên Lý Tải Ðạo:
Chích máu thành thư muốn gửi lời
Lẽ tay nhạn buốt ải mây khơi
Ðêm nay mấy kẻ nhìn trăng nhỉ
Ðôi ngả lòng chung một vợi đời
*
Khóa huyết thư thành dục ký âm
Cô phi hàn nhạn tái vân thâm
Kỷ gia đối Kim tiêu nguyệt
Lưỡng xứ mang nhiên nhất chủng tâm.
Người lính Việt Nam ra trận đánh giặc là do tình thế bức bách, buộc lòng phải ngăn chặn sự ác để bảo vệ dân lành và gìn giữ non sông gấm vóc, không tìm thắng lợi trên đau khổ của kẻ khác. Chiến tranh chấm dứt thì thù hận cần phải buông xả.
Dân tộc Việt khác hẳn người Hán, người Hán họ thâm độc thù hằn. Ta cứ coi thái độ lãnh đạo của Bắc Kinh ngày nay, từ Ðặng Tiểu Bình đến các binh sĩ người Tầu đối với dân ta trong cái trận chiến biên giới từ năm 1979 đến nay thì rõ… Họ quá dã man. |