SINH HOẠT CỘNG ĐỒNG
TUỔI TRẺ CỜ VÀNG
 
 


 

Tan nát Thánh Giá Đồng Chiêm
nhớ đến tan xác đồng bào trên Đại Lộ Kinh Hoàng

Tan nát Thánh Giá Đồng Chiêm
nhớ đến tan xác đồng bào trên Đại Lộ Kinh Hoàng

Trên mười ngàn người suốt chặng đường mười cây số kéo dài thành hình rồng rắn trong sự hoảng sợ tột cùng trước sự dã man của phe miền Bắc. Cộng sản Bắc Việt đã nã súng vào dân lành không có lấy chút thương hại. Kẻ nằm, người ngồi, xương thịt vung vãi trước những làn đạn của những người gọi là giải phóng nhân loại, những người này đặc biệt cùng máu mủ tổ tiên với họ. Về sau để ghi lại nỗi kinh hãi trong sự hận thù, đoạn đường này được gọi là Đại lộ Kinh Hoàng.
Khởi đầu cũng là chấm dứt sự yên bình của một tỉnh lẻ, vào ngày 31-3-1972, căn cứ quân sự Ái Tử của miền Nam, nằm giữa thành phố Quảng Trị và Thị trấn Đông Hà, nơi đóng đại bản doanh của sư đoàn 3 bộ binh phải chịu những trận pháo kích nặng nề của phe miền Bắc, cuối cùng những địa điểm chiến lược của vùng này lọt vào tay miền Bắc từ núi Ba Hồ đến Khe Gió, rồi Cam Lộ, Đông Hà. Quân lực miền Nam tăng thêm quân để chống đỡ, nhưng đành phải rút lui, đánh sập cầu Đông Hà để trấn thủ phía Nam của bờ sông. Lực lượng của miền Bắc cũng tăng lên hơn 10.000 quân đang đóng phía bên kia cầu.
Cộng sản tiếp tục pháo kích dữ dội vào tất cả các khu dân cư quanh vùng chiến khiến dân chúng hoảng loạn trước cái chết. Họ chạy và chạy, cố thoát ra khỏi vùng lửa đạn. Nhà cửa bốc cháy, người người bồng bế nhau chạy trốn trong cảnh chết chóc đau thương của thứ tiêu thổ kháng chiến đã ăn sâu trong tâm thức của những người cộng sản Bắc Việt. Người dân trước đó đã kinh hoàng chứng kiến những vụ giết người tập thể vào Tết Mậu Thân 1968, nên khi nghe đến từ ngữ Việt Cộng chiếm đóng người dân từ già trẻ lớn bé đều hốt hoảng, mọi phương tiện được huy động trong cuộc chạy trốn từ xe bò, xe thồ, xe đạp, xe lam, xe tải… đâu đâu cũng bu bám đầy người. Những người dân lành đang chạy trốn - với họ là sự ác trong điều kiện hiện có nếu có thể. Nhưng định mệnh như những con thiêu thân chạy tới ánh đèn, cho dù có chạy trốn cái chết nhưng số phận đã dành cho thân phận người Việt suốt trong dòng lịch sử một sự thật nghiệt ngã.
Một lần nữa, lợi dụng cảnh hoảng loạn qua chiến thuật hoả công, Việt cộng ào ạt tấn công đánh chiếm cổ thành Quảng Trị. Tiếng khóc than dù là tiếng thét cũng không át nổi tiếng đại bác cứ nã vào dân lành: máu thịt, xương rơi vung vãi tung toé trên khắp con đường mười kí lô mét - Đại Lộ Kinh Hoàng với xác người không còn hình thù nằm ngoằn ngoèo, ngổn ngang từ cầu Đập Đá.
Các phóng viên miêu tả loạn ly nơi đây như trong ngày tận thế, cứ tường thuật như vậy cho con người dễ tưởng tượng, không ai biết ngày ấy sẽ ra sao vì không lẽ Thượng Đế theo sự mô tả của con người lại bất lực đến như thế. Nhưng giờ đây thật sự Ngài đang bất lực nếu Thượng Đế có thật, bao tiếng cầu kinh cùng lòng thành nhưng như dân gian hay hát ‘đường xa không thấy Buddha… đã bao lần cầu mà không cho thấy’ .  Ở đây và bây giờ Phật, Chúa đều vắng mặt chỉ có tiếng kêu hoài vọng của con người đến với Quý Ngài… Chúng con đang đi trên con đường Chúa là đường ngay là Sự Thật, là Ánh Sáng…chúng con đang chạy trốn sự tối tăm dù phải chết. Sự cầu nguyện, niệm Phật có lẽ đã là liều thuốc tuyệt vời nhất cho con người trong chiến tranh trước cái chết. Thôi thì Thượng Đế không cứu chúng ta thoát khỏi cái chết thì ta đến với Ngài trong cái chết để được hy vọng sống lại, hay nhanh chóng hoá kiếp vậy.
Đại lộ kinh hoàng đoạn đường 40 cây số trong khoảnh khắc phủ kín một lớp màu của máu với hàng chục ngàn xác chết gồm hầu hết là đàn bà, con trẻ gục ngã bởi những chùm đạn pháo tập trung xối xả trút xuống, và những xác thân bị tung lên trong sự chết đi nhồi lại, da thịt tung lên nhiều lần.
Trong chiến tranh tiếng than khóc của con người vượt khỏi trời cao, có thể qua khỏi cả bên sau các lỗ đen. Và tại thế này chúng ta rồi đến mai hậu sẽ nhìn lại những đoạn phim bom rơi đạn pháo vào dân lành, họ văng ra không kịp kêu than trước cái chết – đó là sự chết lành trong chiến tranh. Song nói như tôn giáo: ‘Phúc cho những ai than khóc, họ sẽ được an ủi’, nếu thật sự như vậy thời dân tộc Việt Nam đáng được an ủi và xin chia sẻ nỗi đau này cho đồng loại, nhưng trong chiến tranh vẫn trong qui luật ‘tiến khó một mà rút khó mười’. Rước thứ dữ về nhà và khó mà đuổi đi lắm! Những nạn nhân chiến tranh trên đất nước này với những ai còn sống sót thường nghĩ đến hình ảnh Nã Phá Luân nã súng vào công chúng biểu tình trong thời Cách mạng Pháp, thế nhưng cảnh súng quét xối xả cùng đại pháo của Việt Cộng nã vào những người dân chân chất cùng nghĩa đồng bào với họ mới thật tàn nhẫn làm sao nếu so về bản chất của bạo tàn.
Hình ảnh của người Mẹ còn là thiếu nữ ngồi lại bên xác chồng, đạn vẫn xợt qua liên tục trên đầu trong mưa pháo, người phụ nữ vẫn ngỡ rằng người thân đang còn sống, như mọi động tác để sưởi ấm cho người thân cũng là đo lường sự thoi thóp còn đến mức nào. Bà xoa tay nhẹ trên bụng, vào lòng ngực… khi chiếc áo không cần vạch ra vì bao vết đạn đã xé toạc rồi. Sự ngẩn ngơ thần người sống kề bên cái chết, quả đây là một bức tranh đương đại của Việt Nam hậu bán thế kỷ hai mươi.
Cuộc chiến tại một tỉnh lẻ, cũng là tuyến đầu của miền Nam kéo dài đến tháng 9 năm 1972. Cuối cùng quân dân miền Nam cũng lấy lại mảnh đất tự do của mình, trước sự hỗ trợ mạnh mẽ của Đồng minh bằng không quân và những trận oanh tạc ngày đêm, Họ đã làm chủ tình hình, Cổ thành Quảng Trị đã được chiếm lại. Những tàn quân của phe miền Bắc rút về phía tây Trường Sơn để lui binh về bên kia sông Thạch Hãn, cũng là biên giới giữa hai miền Nam Bắc Việt Nam. Thế nhưng trời đã không dung với số bộ đội còn lại này đã bị các tiểu đoàn Thuỷ quân lục chiến miền Nam có tên nghe đến đã phát khiếp là Trâu Điên và Ó Biển tiêu diệt, nghe tường thuật lại đã không còn một mống nào trở về miền Bắc như thơ bất hủ của Thôi Hộ ‘Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi’ nghĩa là ‘xưa nay chinh chiến mấy ai trở về’ .
Cuộc chiến Cổ Thành Quảng Trị chấm dứt. Song bên trong và ngoài thành khói vẫn còn un lên mùi tanh khét của xác người đang ngún cháy, tất cả là người Việt Nam. Những người miền Nam còn sống đầy thương tích trên người, có người đạn xợt qua vết áo rách vẫn còn như một chứng tích có thần chú thánh thần… Còn phe miền Bắc để dọn sạch chiến trường dường như không có cách nào khác, đó là chỉ có lửa, phải qua lửa thiêu đốt mới có thể nhanh chóng làm sạch môi trường.
Các nạn nhân trốn chạy bom đạn thường kinh hoàng trong ám ảnh về những giây phút bom rơi, đạn pháo bừa bãi vào dân lành, họ sợ bom đạn nhưng càng sợ hơn nếu ở lại trong vùng cộng sản chiếm đóng sẽ bị thảm sát tập thể còn man rợ hơn. Bao di chứng trong sự ám ảnh sẽ còn kéo mãi theo những người bất hạnh này, nhất là sự sợ hãi ám ảnh về những người trên đường tỵ nạn đã bị bắn chết ngay tại chỗ mà họ đã chứng kiến, nên sau đó họ thường mê sảng vào ban đêm: giữa cái chết và cái sống với họ sao mà thật gần, giữa chỗ nằm và nấm mồ sao mà bên nhau đến thế gọi là rối loạn định hướng lực: về thời gian và không gian.
Nạn nhân bị mất ngôn ngữ một phần, có trường hợp bị rối loạn khả năng viết. Họ phát ngôn những từ rời rạc không liên quan gì với nhau, hoặc không có ý nghĩa gì cả.
Ngôn ngữ hằng ngày của các nạn nhân còn sống sót trên đường chạy trốn cộng sản, sống tạm thời trong các trại tỵ nạn không ngoài một số từ như: ăn, ngủ, thức dậy, đi lãnh đồ viện trợ, oải, mệt quá, thảm khốc, chết chóc, hoang tàn… Nên dần dần theo thời gian người nào ít nhiều cũng bị mất ngôn ngữ. Có trường hợp họ quên cả chữ viết, thật ra họ biết chữ vẫn còn đánh vần được song viết rất khó nên mỗi khi trong cơn ám ảnh chiến tranh… Ngoài ra rất nhiều trường hợp phát âm khó, nói năng chậm rãi, rời rạc, hoặc bâng quơ không có ý nghĩa gì cả, những trường hợp này thường xảy ra với các nạn nhân sau cơn bạo bệnh hay mắc các chứng ngặt nghèo do hậu quả những thương tích suýt mất mạng.
Những lá cờ của phe bên này bị phe bên kia hạ xuống và một lần nữa lại treo lên. Hai bên đều gọi là bất khuất, chỉ có ngươi Việt và những người lính Đồng Minh trẻ sẽ mãi mãi nằm trong sự khuất bóng của một cuộc chiến điêu tàn, diệt chủng từ những cái được nhân danh.
Nguyễn Quang


*Trích từ tác phẩm Cái Giá Của Tự Do với nội dung Tâm Lý Thần Kinh của người dân trong chiến tranh Việt Nam, tác giả Nguyễn Quang.