THUNG LŨNG

KHÁC XA 
LÃO MÓC 
Cách đây khoảng 7 năm, báo chí có đăng tin có một đám cưới của hai người đàn ông với nhau, một là Việt kiều từ nước ngoài về, một là chủ siêu thị ở Sàigòn.
Trước đó, một đám cưới giữa hai cô gái cũng diễn ra ở một vùng quê và bị báo chí trong nước phê phán khá nặng. Đám cưới công khai giữa những người đồng tính luyến ái nam (gay) và đồng tính luyến ái nữ (lesbian) ở Mỹ là chuyện rất thường xảy ra, không mấy ai quan tâm đến, trừ các đương sự. Nhưng ở Việt Nam, những đám cưới loại này là một chuyện tương đối mới lạ và làm lúng túng những người có trách nhiệm vì luật pháp của chế độ Hà Nội chưa dự trù đến chuyện ấy.
Ở Mỹ có những tạp chí dành riêng cho những người đồng tính luyến ái và cho cả những người lưỡng tính luyến ái nữa. Nhưng Lão Móc chưa có hân hạnh đọc nên không hiểu những người này khi tâm tình với nhau thì họ nói những gì.
*
Tương tư lọ phải là trai gái…
Đó là một câu thơ của nhà thơ Tú Xương, tiền bối của nhà thơ Tú Nạc. Nhà thơ tiên tri về chuyện đồng tính luyến ái xảy ra sau khi ông chết hay sao?
Chứ thời của ông Tú Xương chỉ có trai gái mới tương tư nhau. Ông Tú tài hoa ấy tương tư ai thế? Sao lại không phải là một cô hay một bà nào nhỉ?!
Xem lại những bài thơ mà ông Tú viết ra, người ta thấy có hai bài thơ mang cùng một tựa “Nhớ Phan”. 
BÀI THỨ NHẤT:
Nhớ Phan
Ta nhớ người xa cách núi sông,
Người xa, xa lắm nhớ ta không?
Sao đang vui vẻ ra buồn bã,
Vừa mới quen nhau đã lạ lùng!
Lúc nhớ, nhớ cùng trong mộng tưởng
Nỗi riêng, riêng cả đến tình chung.
Tương tư lọ phải là trai gái
Một ngọn đèn xanh, trống điểm thùng.
Ông Tú Xương tương tư ai mà làm thơ nghe nhớ nhung, man mác làm sao! Khác hẳn với lối trào phúng chua cay mà ông vẫn thường có trong những bài thơ khác.
BÀI THỨ HAI:  
Nhớ Phan
Bao năm vượt biển lại trèo non,
Em hỏi thăm qua Bác vẫn còn.
Mái tóc Giáp Thìn đà nhuộm tuyết,
Điểm đầu Canh Tý chửa phai son.
Vá trời gặp hội mây năm sắc,
Lấp biển ra công đất một hòn.
Đã chẳng như ai mà sợ chết
Dang tay chống vững một càn khôn.
À, thì ra ông Tú nhớ cụ Phan Bội Châu! Mái tóc Giáp Thìn, điểm đầu Canh Tý… Đa số các tài liệu ghi cụ Phan sinh năm 1867, năm 1868 mới là Giáp Thìn. Ai đúng, ai sai? Không biết. Nhưng Canh Tý, 1900, cụ Phan Bội Châu thi đổ Giải nguyên trường thi Hương ở Nghệ An.
Cụ Phan Bội Châu năm 18 tuổi đã bỏ học hưởng ứng hịch Cần Vương của vua Hàm Nghi ban ra sau vụ thất thủ kinh thành tháng 5-1885. Sau đấy mấy năm mới trở lại học tiếp. Không rõ cụ Phan đã gặp gỡ với ông Tú vào thời gian nào, nhưng sau khi thi đậu Giải nguyên năm 1900, từ đó cho đến năm 1907 là năm ông Tú Xương qua đời thì cụ Phan hết vượt biển lại trèo non, gặp Đề Thám, gặp cụ Tiểu La Nguyễn Thành, gặp Khuyễn Dưỡng Nghị và Đại Ôi bá tước của Nhật, gặp Khang Hữu Vi ở Trung Hoa… Những năm ấy trở về sau cho đến khi cụ Phan bị anh chàng Lý Thụy chỉ điểm cho Tây bắt, cụ đang ra sức vá trời, lấp biển.
Vừa mới quen nhau đã lạ lùng!
Có thể lắm, cụ Phan lúc ấy đi làm “quốc sự”, mọi hành tung đều phải che giấu, dù có quen ông Tú cũng phải làm mặt lạ làm như chẳng ai biết ai.
Khi người ta có lòng nghĩ đến nhau thì “Tương tư lọ phải là trai gái”. Ông Tú Xương của chúng ta vợ con đề huề, lại “rượu chè, trai gái đủ trăm khoanh”, hẳn nhiên ông Tú là một người đàn ông bình thường như đại đa số những người đàn ông khác. Thế thì ông Tú tưong tư cụ Phan vì một lẽ khác.
Cụ Phan là một người yêu nước và có tinh thần cách mạng chống Pháp đã được cụ thể hóa với cả cuộc đời vượt biển, trèo non sang Nhật, sang Tàu, sang Xiêm… Ông Tú Xương của chúng ta tuy không dấn thân được như cụ Phan nhưng bàng bạc trong thơ ông vẫn thấy lòng yêu nước ẩn hiện. Như trong hai bài “Nhớ Phan” và bài “Sông lấp”:
“Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai
Đêm nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò!”
Ông Tú có “tương tư” cụ Phan cũng là chuyện thường. Đó là cái nhớ nhung một người quen biết, cái kính phục một người đang dấn thân hy sinh. Cụ Tú đem những thứ ấy vào trong hai bài thơ đọc lên rất cảm động. Người ở nhà ngồi nhớ người đang dấn thân vì nghĩa lớn; một mình với ngọn đèn xanh, cụ Tú ngồi cho tới lúc “trống điểm thùng”.
*
Trích Thiên Hạ Sự:
“Mùa Quốc Hận, Quốc Kháng kể như đã qua, năm nay tuy không có lực lượng xe ủi đất tấn công vào sào huyệt VC nhưng các cuộc tấn công cùng khắp của các lực lượng hải ngoại trải đều, rất dũng mãnh khiến cho quân địch bị tổn thất rất nặng. Nhất là các mặt trận Nhân quyền, Dân chủ tự do… chiến trường nào quân ta cũng đông đảo, tiến công chiếm mục tiêu dồn địch vào thế ngấp ngoải gần chết.
Riêng ở vùng ta, trận đánh Quốc Hận tại công viên Sanh Dêm theo báo và đài cho biết quân số ngót ngét một nghìn người đã dồn đối phương vào thế không còn nho nhe gì được. Buổi sáng đánh trận xáp lá cà, buổi chiều chơi thêm  trận Văn nghệ Quốc kháng với quân số chỉ thiếu 6 người nữa là ba nghìn, thắng lợi rất hiển hách. Chưa hết, nhằm đúng 30 tháng Tư mặt trận Nhân quyền quân ta bất ngờ kéo gần bốn chăm tấn công ngay vào mục tiêu chị em kết nghĩa Săng Phăng khiến VC trở tay không kịp vì chúng cứ tưởng anh em ta không dám chơi vào ngày làm việc. Đã trở tay không kịp thì chỉ có chết nên anh em ta thắng dễ dàng…”
(Thời Báo ngày 3,4-5-1997) 
“… Làm theo kiểu Ký Còm đề nghị, thứ nhất cộng đồng ta không cần phải quyên góp càng có nhiều cơ hội chi tiêu lung tung, mang tai mang tiếng. Thứ hai, đỡ khổ cho ông Lê Hữu Phú, thủ quĩ khỏi phải mất công ký khế ước vay nợ, nhỡ ra luật sư ta cãi không ăn xít ti thì lại khổ cho… bà xã ông Phú! Thứ ba làm như thế là khích lệ tinh thần nghề nghiệp chuyên môn của các luật sư tài giỏi, cãi giỏi sẽ thắng tiền to, xứng đáng hơn. Họ sẽ hăng hái cãi chầy cãi cối cho đến thắng lợi để cộng đồng ta hưởng vinh dự chính là cộng đồng đã gửi thông điệp hay nhất cho xít ti. Ngàn đời cư dân San Jose sẽ phải ghi ơn cộng đồng Việt Nam. Chẳng mất xu teng nào mà cũng làm nên việc lớn, vậy mới tài, mới hay, chứ quyên góp, vay nợ, nhỡ ra thì… chán chết!
Như thế số tiền tám chịch hoặc tám nghìn còn lại sau cuộc đấu tranh có lời cả danh dự lẫn tiền bạc, chúng ta hãy mau mắn tiến hành làm cổng chào. Thay vì tiền đi kiện, nhỡ ra kiện xít-ti không kiện lại kiện… củ khoai, thì chúng ta vẫn có tiền để chi tiêu cho việc xây cổng chào đúng hạn kỳ, xít ti không còn cớ nào để bắt nạt chúng ta được.
Ký Còm đề nghị, khi có cổng, thay vì chạy rông suốt ngày các ông Tiên và Phú, ba bốn cô Phương, các cô Giao, cô Vân ta thay phiên nhau dùng thuốc đánh đồng, oánh bóng mấy chữ Little Saigon cho thiên hạ chói mắt. Còn hai bác Ái và Nhẫn, như hôm nào Ký Còm đã phân công, các bác cứ chịu khó đảm trách công tác làm sạch khu phố mỗi khi các chú chi oa oa, cún, mực, vện, vàng quen thói hàn bậy ra khu vực Sài Gòn Tao.”
(Thời Báo số 5157, Thứ Bảy, Chủ Nhật 26, 27-9-2009).
(Trả lời riêng cho ông Ký Còm: Ông Ký yên chí, không cần phải ông Ký phân công. Mấy chú “chi oa oa, cún, mực, vện, vàng” mà ông Ký quen biết, chú nào “phóng uế vào văn chương, báo bổ, chú nào nịnh sằng, nổ sảng, viết ẩu, viết tả, dốt mà hay khoe chữ, chú nào mà lường gạt tiền bạc, tim óc của kẻ khác… ở khu vực Sài Gòn Tao” bảo đảm “hai bác Ái và Nhẫn” sẽ… làm sạch! Ông Ký yên chí mà đi tiếp tục sự nghiệp bợ đỡ chú “Tỏn” Lê Dũng).
*
Không ai là không thấy thái độ thù ghét, khích bác đàng sau những dòng chữ đã được Ký Còm Vũ Bình Nghi viết cách đây 12 năm. Thái độ thù ghét, khích bác những hoạt động tranh đấu chống lại chính quyền Hà Nội của tác giả những dòng trên đây vì sao mà có, lúc đó ít người hiểu được. Nhưng nay, thì mọi người đã hiểu rõ vì sao. Bây giờ thì mọi người đã hiểu rõ đây là “nghiệp vụ” mà Ký Còm Vũ Bình Nghi phải đảm trách.
Mười hai năm sau, những dòng chữ khích bác những hoạt động tranh đấu chống Cộng, mỉa mai, châm biếm những người đứng ra hoạt động cộng đồng trên mục “Thiên Hạ Sự” lại được tiếp tục lặp đi, lặp lại chắc chắn độc giả đã nhìn ra chân tướng “cái loa và cò mồi uy tín” của Ký Còm Vũ Bình Nghi.
Ông Tú Xương ngày xưa - mà có xưa gì đâu, mới khoảng 100 năm trước đây thôi - nghĩ tới người mình có lần gặp mặt là Phan Bội Châu, năm ấy mới chưa 40 tuổi mà mái tóc nay đã nhuộm tuyết, phải lặn lội, vượt biển, trèo non vì đất nước, đã một mình đối diện với canh khuya và ngọn đèn xanh leo lét để viết nên mấy bài thơ gửi gấm tâm sự của một người “không làm gì được” gửi tới một người “đang làm cái gì đó” cho lý tưởng.   
*
Tô Thức, tự Đông Pha, là một danh sĩ đời Tống. Ông là một người học rộng, biết nhiều, thơ phú giỏi. Mấy trăm năm sau có một ông quan Huyện, ý hẳn cũng học đòi, liền lấy hiệu là Tây Pha. Ý muốn cho mình cũng ngang hang  với Tô Đông Pha.
Có anh học trò hay đùa, mới làm một khổ thơ yết hậu thật ngắn để đùa quan Huyện:
Người xưa hiệu Đông Pha,
Người nay hiệu Tây Pha
Khác xa!
Quan Huyện giận lắm, sai du côn kiếm chuyện đánh anh học trò để... cảnh cáo! Dù có bị đòn, nhưng anh học trò đã nói ra một sự thực: Tây Pha khác Đông Pha xa lắm. Khác xa như cảnh ông Tú Xương ngồi một mình chong đèn  viết bài “Nhớ Phan” và cảnh ông Ký Còm còng lưng bên computeur viết bài khích bác những người có lòng đội nắng đi biểu tình chống lại sự cai trị độc tài phi dân chủ của nhà cầm quyền Hà Nội; viết bài bịa chuyện mỉa mai châm chọc những người đã tranh đấu để giành lại “danh dự” và “nền dân chủ” đã bị bà nghị viên “ăn cháo, đái bát” Madison Nguyễn và Thị Trưởng Chuck Reed chà đạp và tước đoạt!
Tương tư lọ phải là trai gái…
Ông Tú Xương viết thế. Còn ông Ký Còm thì cũng giông giống như thế, ông ghét tất cả những ai có mặt trong những cuộc đấu tranh chống Cộng, dù những người ấy trước nay từng vượt biển tỵ nạn Cộng sản giống như ông ta đã khai ở đảo.
Đông Pha, Tây Pha khác xa!
Lão Móc thành thật xin lỗi cụ Tú Xương đã làm một việc… chả ra làm sao khi đem một cái tên tuổi rất ư là bá láp để đặt cạnh tên Cụ.
Ôi! Cái tên Tây Pha thời đại! 
LÃO MÓC