Gia tăng nhiệt độ là tình trạng đe dọa chung cho toàn cầu, nhưng đối với VN, vấn đề phải đối phó trước mắt là chuyện “phù sa ngập mặn”. Khi mực nước sông xuống thấp, nước biển sẽ tràn vào các vùng đồng bằng gây thất bát mùa màng, giết hại các thủy sản như tôm, cá, và làm các đồng cỏ nuôi gia súc trở nên héo vàng vì không đủ nước
Theo tin của RFA ngày 2/6/10, tình hình lương thực ở VN có nguy cơ bi đe dọa do ảnh hưởng của môi trường. Theo tính toán sơ bộ thì hơn ¼ diện tích đồng bằng sông Cửu Long có nguy cơ bị ngập mặn, tức là đất trồng lúa sẽ có 1 triệu ha không trồng trọt được, và mất khoảng 7-8 triệu tấn lương thực. Hiện nay VN xuất cảng từ 4-6 triệu tấn lương thực mỗi năm. Nếu mất 8 triệu tấn lương thực thì VN không những không xuất cảng mà còn phải nhập cảng.
Ngày 2/6/10, trong cuộc phỏng vấn với phóng viên Khánh Anh, ông Nguyễn Bỉnh Thìn, Phó vụ trưởng vụ Khoa Học Công Nghệ, Chánh văn phòng biến đổi khí hậu thuộc Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn cho biết rằng đa số đất đai nông nghiệp VN ở đồng bằng Cửu Long và song Hồng hà VN rất thấp, Nếu mực nước biển dâng lên từ 75cm tới 1 m thì an ninh lương thưc của VN sẽ bị đe dọa. Từ nhiều năm nay, VN đã có hiện tượng xâm nhập mặn, nhưng năm nay, nước mặn lấn sâu lên phía thượng lưu sông nhiều hơn những năm về trước. Hàng năm, chỉ có khoảng 20 m từ phía biển lên, nhưng năm nay có khi lên tới 40 m hoặc hơn nữa. Mối lo nhất của VN hiện nay là nước biển dâng ngập đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng
Về nguyên nhân của hiểm họa ngập mặn thì ông Nguyễn Bỉnh Thìn nhận định: “ Chưa chắc đã hoàn toàn do nước biển dâng vì tăng nhiệt độ, Có thể là do 5 nước ở thượng nguồn sông Mekong lấy nhiều nước hơn để chạy các nhà máy thủy điện, hoặc cũng có thể là do năm nay nước về ít hơn”
Về giải pháp đối phó, thì ông Thìn đưa ra 2 giải pháp. Một là xây dựng hệ thống thủy lợi, hệ thống đê, bờ bao để ngăn chặn nước biển. Hai là dự báo tình hình nước biển cho nông dân để họ chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Năm nào nước mặn vô nhiều thì phải hoạch định chỗ nào nuôi tôm, chỗ nào nuôi cá, chỗ nào trồng lúa, chứ không thể trồng tràn lan như trước đây.
Vùng đồng bằng sông Cửu Long vốn đất đai màu mỡ do phù sa của 2 con sông Vàm Cỏ, chi nhánh của sông Mekong. Các nguồn lợi nông sản và hải sản của VN không những đủ dùng cho cả nước mà con dư giả để xuất cảng ra ngoại quốc. Từ ngày TQ xây liên tiếp các đập thủy điện, lấy những khối nước khổng lồ từ sông Mekong vào bề chứa để chạy máy thủy điện, thì VN cũng như những nước ở cuối nguồn con sông Mekong phải gánh chịu những hiểm họa do sông Mekong thiếu nước.
Theo “The Mekong in Peril” của báo Prashanth Parameswaran Thái Lan, ngày 2/6/10, và “China New Dam as water hog”, của USA Today ngày 4/21/10 thì cho tới năm 2010, TQ đã xây xong 3 đập: đập Manwan 1,500MW, đập Daichaosan 1,350 MW, và đập Xiaoman 4,200MW. Đập Xiaoman có diện tích hồ chứa hơn 190 km2 và dung tích 15 tỷ mét khối. Đập này đã bắt đầu lấy nước sông Mekong vào bề chứa từ năm 2009, và sẽ lấy đủ nước cho hồ vào năm 2012. Hiện TQ đang dự trù xây thêm 3 con đập bực thềm nữa, theo kế hoạch 14 con đập bức thềm, sẽ được hoàn thành tại Vân Nam.
Không những chỉ xây đập thủy điện trên sông Mekong chảy qua tỉnh Vân Nam, TQ còn xây dựng những con đập trên khúc sông Mekong tại đất Lào (đập Pak Beng 1,320 MW,và Sanakham 1,000 KW), và Cam Bốt (Sambor 2, 600 KW), với chi phí trên 5 tỷ đô la.
Trước mối đe dọa sông Mekong cạn dòng do chuỗi đập đầu nguồn ở Vân Nam, 4 quốc gia ở cuối nguồn gồm Thái Lan, Lào, Cam Bốt, và VN đã họp Hội Nghị thượng đỉnh Mekong ở Hua Hin, Thái lan. Thủ Tướng Thái Lan Abhisit Vejjajiva tuyên bố trong diễn văn khai mạc rằng “Sông Mekong đang bị đe dọa nghiêm trọng vì sự lạm dụng nguồn nước và hậu quả của biến cố khí hậu. Nếu không có một chính sách khai thác thận trọng và hợp lý các nguồn tài nguyên sông Mekong, con sông hùng vĩ này, không thể nào sống còn,”
Trung Quốc, không hề thông báo, hay quan tâm tới những hiểm họa xảy ra cho những quốc gia ở hạ nguồn. Trung Quốc cũng từ chối không tham gia các Hiệp hội về sông Mekong vì e ngại các điều khoản trong hiệp hội này sẽ ràng buộc TQ. Để trả lời cho việc mực nước hạ lưu sông Mekong xuống thấp, TQ cứ nằng nặc giải thích rằng “đó là do khí hậu, thiếu mưa, và hạn hán”. TQ cũng phủ nhận những khẳng định của các nhà môi sinh và tuyên bố những lượng gía của họ về tác hại của những con đập Vân Nam là hoàn toàn không có cơ sở.
Những năm cuối thế kỷ 20, TQ đã nhanh chóng phát triển về kỹ nghệ và kinh tế nhờ chính sách đổi mới mở cửa ra ngoài. Trên đường phát triển, TQ đã tận dụng khai thác các nguồn lợi về dầu hỏa, gỗ, khoáng sản, và các mỏ quí kim tại các quốc gia nhược tiểu tại Phi Châu. TQ cũng tự tung tự tác, chèn ép các nước láng giềng trên biển Đông. Đã ngang ngược lấy hết nước sông Mekong để chạy các đập lớn, đập nhỏ cho lợi ích riêng tư, mà không đoái hoài gì tới những hiểm họa tày trời cho những quốc gia ở cuối nguồn.
Sự thành công của TQ là một đại họa cho các nước láng giềng và nhiều quốc gia nhược tiểu khác !